Friday, 5 February 2010

Người thiên hạ, kẻ lầm than và dòng kênh nhem nhuốc


- Một người chuyên đi lo chuyện thiên hạ, một người sống vì thiên hạ. Hai người là hai thanh âm bên dòng kênh nhem nhuốc.

Ít ai ngờ, sau lưng khu du lịch Đầm Sen (Q.11, TP.HCM) lại có một khu dân cư “ổ chuột”. Những căn nhà ở đây đã lụp xụp, tồi tàn lại nằm ngay một con kênh (người dân gọi là kênh Cầu Mé) đen như mực, mùi hôi thối ngùn ngụt, chuột bò lúc nhúc. .. Trong khu phố nghèo bên dòng kênh nhem nhuốc này có hai cụ già rất đặc biệt.

70 tuổi còm làm "người thiên hạ"

Một lần đến khu phố trên vào lúc trời xẩm tối, trong lúc mọi người cúi rúi chạy tránh mưa, tôi lại thấy một ông già quần áo nhem nhuốc đang lọ mọ dưới kênh. Có vẻ như ông cụ không để ý đến mưa, ông chỉ cố đào bới đống đất để tìm rác ruởi rồi bỏ lại thành từng đống.

Ông Phạm Văn Tân và dòng kênh Cầu Mé. Ảnh: Tử Trực


Tôi thắc mắc hỏi một người đàn ông đang đứng trú mưa bên cầu Mé, người này cho biết, ông cụ đang cố gắng gom rác lại thành từng đống để rác khỏi rớt xuống kênh.

“Ông ấy là người chuyên đi vớt rác, thu dọn những gì mà người ta vứt ra kênh để cho sạch. Cứ ba bốn bữa một lần, hồi nào thấy có rác ứ đọng là ông vớt. Con kênh này nếu không có ông ấy sẽ càng bẩn hơn nữa. Tôi biết điều này vì đã quá quen với cảnh đó rồi”- người đàn ông này nói.

Để xem có thực như lời người đàn ông kia nói, tôi dò hỏi và được bà Tư, nhà ở gần đó xác nhận: "Không phải ổng đi vớt rác không đâu mà ổng còn bỏ tiền xây thành cầu, rồi bắt bóng điện ra ngay chỗ lúc nãy cậu đứng để người đi đường khỏi bị họa. Ở đây không có ổng, chắc sẽ có thêm nhiều người bị chết đó".

Sở dĩ phải bắt điện ra ngoài đường vì theo bà Tư, cây cầu Mé bắc ngang đường dẫn vào khu phố này có gầm quá thấp, lại đúng chỗ khúc cua, người đi đường thường đụng đầu chết liên tục. Còn thành cầu thì được xây chỉ cách mặt đất chưa đầy gang tay nên có người rớt xuống kênh thường xuyên.

Ông Tân đang đào đất, thu dọn rác bên sát mép kênh cầu Mé. Ảnh: Tử Trực


Khi đến gần chỗ ông cụ đang gom vác, thấy tôi chụp hình, ông cụ nói, giọng buồn, vẻ nuối tiếc: “Nó (kênh Cầu Mé - PV) dơ lắm. Hồi trước, cá còn bơi còn lội được bây giờ thì thế này”.

Tôi hỏi cụ đang làm gì? Ông chỉ đáp gỏn lọn “thì đốt bớt rác này đi”. “Tôi ở đây từ nhỏ, nhìn thấy người ta cứ bỏ rác ra kênh không chịu nổi, con kênh cứ chết dần. Mình ở không làm gì đi dọn cho sạch sẽ”. Dường như ông cụ có vẻ không muốn nói về việc mình làm mà cứ nhìn vào con kênh nhem nhuốc.

Cụ tên là Phạm Văn Tân, năm nay đã ngoài 70 tuổi. Nhà cụ nằm trong một con hẻm gần cầu Mé. Hàng ngày, cụ Tân đạp xe ba gác đi mua phế liệu để bán lại, chiều về rảnh rỗi là cụ Tân thường đi dẹp đống rác này, dẹp đống đổ nát khác trong khu phố. Bởi theo cụ Tân: “Làm cho nó khỏe tuổi già”.

Còn mọi người trong khu phố coi cụ như người “thiên hạ”, bởi “Ổng làm vậy có nhận được gì đâu, chỉ mất công, tốn tiền, rước khổ vào thân…” – Một người dân ở đây nói.

Kẻ lầm than

Cũng ở bên dòng kênh Cầu Mé, tôi lại bị hút vào một hình ảnh khác: cách cây cầu chưa đầy 10 mét có một cái am nhỏ, diện tích chưa đầy 4m2, cao khoảng 1m. Nửa am phía trước được đặt nhiều tượng Phật, nửa phía sau hình như là một chỗ ở của ai đó, bởi có một cái cửa mở he hé.

Cụ Tân cho biết, đó là nhà của bà Nguyễn Thị Xuân: “Bà Xuân già lắm rồi, người ta thương bà cần cù, lại một thân một mình, không con cháu gì cả nên mới xây cái am đó cho ở”.

Cái am nhỏ nơi bà Nguyễn Thị Xuân đang ở. Ảnh: Tử Trực


Người dân ở đây cho biết, bà cụ Xuân đã 80 tuổi, hàng ngày bà rong ruổi đi bán vé số để tự nuôi sống mình. Tuy nhiên, 10 ngày qua bà Xuân bị đau chân không đi bán được nữa. Mọi sinh hoạt, thức ăn, nước uống… đều được những người dân ở đó giúp đỡ, chăm sóc.

Bà Nguyễn Thị Xuân trong "ngôi nhà" của mình. Ảnh: Tử Trực


Còn rất minh mẫn, cụ Xuân kể, từ một miền quê nghèo khổ ở Thanh Hóa, cụ vào Sài Gòn từ những năm 1960, lúc đó cụ mới khoảng 30 tuổi. Chiến tranh và bom đạn đã đưa cụ Xuân gặp được ông T. (người sau đó là chồng cụ) chính trên dòng kênh Cầu Mé này. Hai người xây dựng tổ ấm và mua một khu vườn rộng bên sát cầu Mé để sinh sống.

Ngày tháng trôi qua, nhiều năm sau đó họ vẫn không có con. Đến khoảng năm 1980, ông T. quyết định bán toàn bộ vườn tược, nhà cửa về Bắc sinh sống. Cụ Xuân quyết định ở lại: “Ổng về Bắc là về với vợ trước của ổng, tôi đi làm gì”.

Từ đó, cụ Xuân ở lại một mình ở đất Sài Gòn, không nhà cửa, không người thân thích. Bao năm nay, cụ không biết mình đã ở những nơi nào, chỉ nhớ có lúc ở ngoài đường, có lúc ở nhờ hàng xóm…

Ông Tân và cụ Xuân không thân thích, quen biết... nhưng họ hết lòng với một con kênh bẩn. Ảnh: Tử Trực


Đến hơn 7 tháng trở lại đây, vì thương cụ Xuân côi cút, ông Tân và nhiều người khác mới quyết xây cho cụ một "căn nhà". Đó chính là cái am bà cụ Xuân đang ở bây giờ. Nó nằm đối diện với căn nhà màu xanh lộng lẫy, 3 tầng của bà hồi xưa, một bên này và một bên kia con kênh.

Hỏi vì sao cụ không về quê cũ sống cho đỡ vất vả. Cụ nói, không còn người thân nào ngoài đó nữa. Cả nhà, cả dòng họ của cụ đều mất tích sau một cơn lũ lịch sử trong những năm 80.

Vậy cụ có muốn vào ở trong trung tâm bảo trợ người già? Cụ Xuân tỏ vẻ sợ sệt, lắc đầu lia lịa. Cụ nói rằng: “Ở đây có bà con, hàng xóm nên tôi vui lắm. Tôi có chết cũng ở bên con kênh này”.

Tôi từ biệt họ và cảm thấy ray rứt, dường như ở cả hai người mà tôi gặp ở kênh Cầu Mé đều có một điểm chung là con kênh này "chảy" xuyên suốt cuộc đời của họ. Dòng kênh này dù rất bẩn nhưng chắc nó sẽ không “chết” đi.

  • Tử Trực
  • source
  • http://www.vietnamnet.vn/xahoi/doisong/201002/Nguoi-thien-ha-ke-lam-than-va-dong-kenh-nhem-nhuoc-893395/
  • Người thiên hạ, kẻ lầm than và dòng kênh nhem nhuốc

    Cập nhật lúc 06:19, Thứ Bảy, 06/02/2010 (GMT+7)

Wednesday, 3 February 2010

Hà Tiên có còn đẹp như xứ thơ?


Cập nhật lúc 4:03:29 AM - 02/02/2010

dongho1.jpg


Bình minh Đông Hồ – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


David Nguyễn/Viễn Đông


“Hà Tiên thập vịnh” cùng với Kim Dự lan đào, Bình San điệp thúy, Tiêu Tự thần chung, Giang Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân, Châu Nham lạc lộ, Nam Phố trừng ba, Lộc Trĩ thôn cư, Lư Khê ngư bạc, Đông Hồ ấn nguyệt là 10 cảnh đẹp có từ thế kỷ thứ 18 khi Mạc Thiên Tích cho lập Tao đàn Chiêu Anh Các. Kiên Giang được thiên nhiên hào phóng tặng cho bao thắng cảnh nên thơ nhất miền sông nước Cửu Long.


dongho2.jpg


Đầm Đông Hồ buổi sớm – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


Cố thi sĩ Đông Hồ từng thốt lên: “Ở Kiên Giang kỳ thú thay, có một ít hang sâu, động hiểm của Lạng Sơn, có ngọn núi chơi vơi giữa biển khơi của Vịnh Hạ Long, có ít núi đá vôi Ninh Bình, ít Thạch Thất Sơn Môn Hương Tích, có một ít Hương Giang, chùa chiền Bắc Ninh, lăng tẩm Thuận Hóa và một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng, Nha Trang, Vũng Tàu, Long Hải…”. Vì lẽ đó mà Hà Tiên được ví như Việt Nam thu nhỏ. Mỗi khi dừng chân lại Hà Tiên tham quan, bất cứ ai cũng muốn được ngắm trăng Đông Hồ, được lặng mình giữa xứ thơ non nước yên bình. Nhưng Đông Hồ có còn giữ mãi chất thơ?


dongho3.jpg


Ánh trăng Đông Hồ – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


Đến Hà Tiên lần nào tôi cũng thao thức, chờ cho đến sáng đón bình minh ở phía đầm Đông Hồ. Trong giới nhiếp ảnh có lẽ không còn gì tuyệt hơn là được thu vào ống kính bình minh lên bên đầm Đông Hồ, những thuyền câu song hành lướt sóng, những mẻ lưới mỏng manh bật sáng, đặc biệt cách đây hơn 10 năm khu vực nầy còn có những cây phượng cổ thụ rũ bóng sắc hoa đỏ rực.


dongho4.jpg


Thuyền lưới ngày đêm ở Đông Hồ – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


Say sưa là vậy nhưng còn ngây ngất hơn khi được ngồi uống cà phê từ hướng cầu phao ngắm trăng Đông Hồ, nhiều thi si từ thời Mạc Cửu cho đến ngày nay đã thốt lên biết bao lời vàng ngọc, ngọt ngào khi ngắm trăng rằm tháng Giêng, tháng Mười (Âm lịch). Trăng trên bến Đông Hồ thơ mộng duyên dáng như cô gái đang tuổi xuân thì. Mặt nước Đông Hồ phẳng lặng nép mình bên bóng núi Tô Châu tựa như mặt gương nín thở chờ soi nét giai nhân. Đông Hồ đẹp, đẹp lắm của xứ Hà Tiên, nhưng chợt buồn và nuối tiếc khi chứng kiến những gì đang tàn phá nét đẹp Đông Hồ.


dongho5.jpg


Người dân bắt ốc cặp bờ kè đầm Đông Hồ – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


TS. Lương Văn Thanh, Giám đốc Trung tâm Môi trường và Xử lý Nước (Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam) cho biết, đầm Đông Hồ, rộng 1.384 hecta, đang trong tình trạng ô nhiễm và xuống cấp nghiêm trọng. Đô thị Hà Tiên phát triển từng ngày, dân cư sống ven hồ và trong bãi nổi lòng hồ ngày càng đông đúc khiến nguồn nước dơ, nước cống đổ hết vào Đông Hồ. Theo TS. Thanh, lòng hồ đang bị ô nhiễm vi sinh, độ đục và hàm lượng sắt trong nước cao ảnh hưởng đến phẩm chất nước. Tình trạng lấn chiếm, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản gây thiệt hại cho hệ sinh thái của đầm. Mặt khác, sự kiện của bùn đất lắng khiến Đông Hồ cạn dần, hình thành các bãi bồi thu hẹp mặt nước, ảnh hưởng đến mỹ quan vốn có từ lâu đời.


dongho6.jpg


Cá cua tôm ghẹ... chạy đường nào – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


Mới đây khi đến Hà Tiên tôi cảm thấy buồn và xót thương cho một trong mười thập cảnh của Hà Tiên đang bị bức tử một cách không thương tiếc.


dongho7.jpg


Còn lại ít dòng chảy, người dân đánh bắt cá làm cạn kiệt nguồn hải sản – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


Rác và nước thải của một phần Hà Tiên như trút hết xuống đầm, cây cối trên đầm bị đốn hạ. Từ xa qua ống nhòm tôi không thể hình dung được cá tôm thoát khỏi hàng ngàn sa số lưới và lưới bủa vây. Chưa hết, đầm nầy còn sẽ bị chia năm xẻ bảy một cách vô tổ chức để phát triển du lịch. Chắc chắn là du lịch sinh thái nhưng hai chữ “sinh thái” ấy sẽ có ý nghĩa ngược lại, vì ở đây chưa có hệ thống khử lọc nước thải, rác rưởi và chăn nuôi cho các nhóm dân cư sống trên các bãi bồi và quanh hồ, chưa có chế độ canh tác hợp lý trên đất phèn nặng và trung bình phía thượng nguồn để hạn chế quá trình oxy hóa các vật liệu sinh phèn làm chua nguồn nước.


dongho8.jpg

Rừng lưới tiêu diệt nguồn hải sản ở Đầm Đông Hồ – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông

source

Vien Dong Daily

Tuesday, 26 January 2010

Hàng rong ngày cuối năm


Xã hội
Thứ năm, 21/1/2010, 13:55(GMT+7)


GiadinhNet - Những ngày cuối đông giá lạnh, khắp nẻo đường phố Hà Nội, những gánh hàng rong trên đôi vai gầy của những người phụ nữ xa quê mưu sinh vẫn miệt mài kĩu kịt. Dường như gánh hàng những ngày cuối năm thêm nặng hơn.
Mưu sinh mùa Tết
Những bước chân của họ dường như cũng kéo dài hơn giữa phố xá đông người, bởi trong họ có thêm một nỗi lo toan: ngày Tết đã đến gần... Chiều muộn, những gánh hàng rong tìm về khu trọ nằm khuất sâu sau một con ngõ ở phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa. Gánh hàng của chị Hoàng Thị Huệ, quê ở xã Tân Dân, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, vẫn còn nguyên cả một mớ nào ví, lược, tất, khẩu trang, bấm móng tay...

Chị Huệ rong ruổi mọi con phố.

Bước vào căn nhà trọ chật chội, chị đặt kẹp hàng xuống, thở dài: “Đi tuốt từ dưới phố về mà bán được có 2 đôi tất, hôm nay sao số đen thế không biết!”, rồi chị lôi hộp cơm ăn dở từ trong kẹp hàng ra ngộm ngoạm nhai, dặm thêm ngụm nước lọc, than thở: “Trưa thấy ông già bán bánh mì cũng ế như mình nên ăn giúp 2 cái, đành để dành suất cơm trưa làm bữa chiều...”. Mới đầu giờ tối, rửa ráy xong là chị Huệ leo lên tấm phản được trải rộng làm giường, nơi đã có mấy đồng nghiệp chui vào chăn từ bao giờ. Chị nói như thanh minh: “Cuốc bộ cả ngày trời, đêm đến chỉ có nằm thôi”.
Đây là năm đầu tiên chị Huệ xa nhà đi làm ăn. Chị quyết định lên Hà Nội bởi nhà chị trong quê có 4 sào ruộng, anh trai và hai em gái làm loáng cái là xong. Có về thì cũng chỉ đi cấy thuê. Mùa vụ bây giờ được mấy ngày, làm xong ngồi chơi thì lấy gì mà ăn. Những ngày cuối năm nhớ nhà lắm nhưng chị vẫn ý thức được rằng phải cố hơn ngày thường, phải toan tính làm sao để có thêm cho gia đình đang mong chờ ở quê nhà đôi ba đồng tiêu pha “gọi là có Tết” với người ta. Nhưng ngày càng khó khăn vì người bán dạo từ quê vào thành phố đông hơn, với cánh hàng rong còn bị vận vào cái mác “bán đồ giả”.
Khoảng vài chục phụ nữ bán hàng rong ở dãy trọ này đa số đến từ Thanh Hóa và Hưng Yên. Trong khi chị em ở Thanh Hóa bán đồ dùng sinh hoạt thì những phụ nữ ở Hưng Yên lại đẩy những mủng hoa quả bán dạo, người nào “vốn dày” thì bán đồ sành sứ. Hoài, người Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa, 23 tuổi, lập gia đình 5 năm rồi, có hai đứa con, đứa nhỏ mới 16 tháng tuổi đã phải gửi bà ngoại chăm. Hoài theo chân các chị hàng xóm ra Hà Nội “kiếm được đồng nào hay đồng đó, chứ trông vào mảnh ruộng thì sao đủ ăn. Ông xã mình cũng đâu có ở nhà, vào Đắk Lắk trồng cà phê cho chú. Chồng nơi, con nơi, thôi đành Tết ở lại”.
Trong cái xóm nhỏ hàng rong ấy mỗi người mỗi cảnh vất vả, éo le. Phần nhiều trong số đó sẽ đón năm mới trong gian trọ nhỏ này.

Những lúc ế hàng.

Nhớ nhà chẳng dám về
Tết Nguyên đán gần kề, công nhân vào mùa tăng ca, các gánh hàng rong cũng tự tăng ca. Trong số phụ nữ mưu sinh xa quê ấy có những chị mỗi ngày chỉ ngả lưng 3- 4 tiếng bởi phải “tăng ca” rong ruổi mọi hang cùng ngõ hẻm. Chị Ninh, người lớn tuổi nhất trong nhóm cho biết: “Năm hết Tết đến, muốn cho con có manh áo mới thì phải chịu khó đi làm thêm. Sáng chưa bảnh mắt đã bước ra khỏi nhà, đêm khuya mới chịu về nghỉ. Buồn nhất là những hôm đi rã hết cả chân mà chẳng ăn thua gì...”.
Giữa trưa gặp chị Lê Thanh Thủy quê ở Mỹ Hào, Hưng Yên, ngồi tựa gốc cây ở cổng Trường ĐH Thủy Lợi đếm tiền, những tờ 1.000, 2.000 đồng cũ mèm bị vo tròn trong túi được đếm kỹ và vuốt phẳng phiu. “Sáng nay được mấy khách nước ngoài mua cho mấy cái treo chìa khóa và một số đồ lưu niệm, trừ vốn lời 55 nghìn đồng. Mới nửa ngày mà đã hơn cả ngày hôm qua rồi” - chị phấn khởi cho biết.
Mấy ngày này vào các xóm trọ, nơi ngụ cư của những thân phận mưu sinh nơi đất khách quê người, tôi đã thấy cái cảnh chộn rộn của ngày Tết. Dường như ai cũng gấp gáp hơn, căng sức ra nhiều hơn và ai cũng có dự định riêng. Tối đến khi từ mọi nẻo đường trở về phòng trọ, chị Thủy lại lôi trong túi đồ ra cục len và cặm cụi đan áo. “Áo cho con mặc năm mới, được một cái cho thằng lớn rồi, còn cái cho con em cũng gần xong. Mình không có tiền mua áo, thì mua len đan cho rẻ. Cũng là áo mới. Không biết vài chục ngày nữa có kịp cho chồng một cái nữa không”- chị nói.
Còn bánh mứt nữa, các chị đến tận lò mua bánh, kẹo lẻ rồi thu lượm hộp giấy về cắt dán đem về làm quà, bởi “mang tiếng đi Hà Nội cả năm, Tết về cũng phải có quà chứ”, chị Thủy cười tếu táo.
Thanh niên trai tráng, còn sức khỏe, chịu khó chịu khổ để bươn chải kiếm sống là chuyện thường. Nhưng trong rất nhiều người tha hương mưu sinh đó cũng không ít thân già mà vẫn phải bươn chải xuôi ngược, để lo manh áo chén cơm cho chính bản thân mình.

Một mình lạnh lẽo trong đêm vắng.

Mái tóc hớt ngang gáy bờm xờm đã bạc màu tuổi tác, bên hông là một túi bánh mì, bà cụ vẫn vẫy tay chào mời khách với dáng vẻ nhanh nhẹn. Đã rất nhiều lần tôi bắt gặp cụ đứng ở gần bến xe Nước Ngầm, Hà Nội. Hôm nay, ra bến xe tìm cụ, không thấy, tưởng cụ về quê. Nào ngờ, đi xuôi xuống gặp ngay cụ ở trước cổng Cơ khí ô tô Đại An, Thanh Trì. Tôi mua bánh và hỏi thăm, cụ móm mém cười: “Trên đó người ta đang làm cầu bụi quá. Chứ tôi có về quê ăn Tết đâu. Nhà đâu ở quê mà về”.
Hỏi gia cảnh cụ nhất quyết không nói, chỉ cho biết mỗi quê ở Sơn Tây. Tôi biết cụ già này đã bán bánh mì ở đây đã mấy năm nay. Lúc đưa máy ảnh lên, bà cụ từ chối: “Chụp à? Không được chụp bà đâu!”. Rồi cụ tâm sự: “Tết này, bà tròn 70. Người ta tuổi này nhiều người ngồi một chỗ, tôi còn khỏe vậy là ông trời đã thương lắm rồi”.
Nét nhọc nhằn hiện rõ trên gương mặt đã nhiều nếp nhăn của bà cụ nhưng không tìm thấy sự buông xuôi. Dẫu có lẻ loi, dẫu có một mình giữa Hà Nội náo nhiệt. Hàng ngày, bà cụ vẫn bước đi trên đôi chân mình bán bánh mì, rồi tối đến về phòng trọ sống nốt quãng đời tuổi xế bóng.
Với đôi quang gánh trên vai, sức khoẻ và sự nhẫn nhịn, những con người nhỏ bé đã gánh cả cuộc đời và gia đình họ trên đôi vai mảnh khảnh. Ngày này qua ngày khác, họ đã tích cóp mồ hôi và nước mắt để mái nhà ở quê thêm lành lặn, bát cơm trong ngày Tết của con cái họ được đầy hơn.
Đêm về khuya. Một tí mưa lất phất âm thầm đưa mùa xuân đến thật gần. Lác đác bóng dáng mấy bà bán rau đang gồng mình trên những chiếc xe đạp thồ để chạy đua với Tết. Có lẽ giờ này, Huệ cũng như nhiều người ngoại tỉnh về Hà Nội để kiếm sống nhờ những món hàng nho nhỏ, vẫn chưa ngủ. Họ vẫn ngong ngóng về gánh hàng rong ngày mai.
Tháng chạp - “tháng củ mật”

Trong những ngày giáp Tết, ngoài những người đi hàng rong chuyên nghiệp còn có những nghề “thời vụ” khác như: bán bóng bay, đánh lư đồng, quét ve nhà, tường rào, bán cây cảnh, cá cảnh...
Quân, quê ở Nam Định cho biết mới “ra quân” có mấy ngày mà đã kiếm được kha khá, hơn nhiều mấy gánh hàng rong. “Nếu cứ chăm chỉ đến ngày 29, 30 Tết, mỗi người cũng bỏ túi được trên dưới vài triệu đồng chứ chẳng phải chuyện chơi. Vì vậy nên cứ phải cố”- Quân nói.
Thúy Quang
source
http://giadinh.net.vn/home/20100121094557757p0c1000/hang-rong-ngay-cuoi-nam.htm

Monday, 25 January 2010

Khốn khó nghề đánh dậm


Thứ Ba, 19/01/2010, 07:46


(ANTĐ) - Ở làng Sào, thuộc xã Văn Võ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, những người phụ nữ có truyền thống đánh dậm từ rất lâu đời và họ truyền nghề cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác và người dân nơi đây coi đó là truyền thống văn hóa, là đặc trưng của làng.

Phụ nữ làng Sào ai cũng biết đánh dậm (chị Nguyễn Thị Lan đang đánh dậm trên con sông của xã Văn Võ)

Đánh dậm trở thành nghề truyền thống

Người dân làng Sào có nghề chính là sản xuất nông nghiệp, nhưng đời sống của dân cư gặp nhiều khó khăn, mùa màng thất bát quanh năm, làm không đủ ăn nên bên cạnh nghề nông phụ nữ còn có thêm nghề đánh dậm. Chị Nguyễn Thị Lan, một phụ nữ có thâm niên 17 năm làm nghề đánh dậm cho biết: “Nhà ít ruộng, làm không đủ ăn nên tôi phải bỏ học sớm, mới 15 tuổi mẹ tôi đã dạy cách đánh dậm để đỡ đần gia đình và nuôi các em ăn học.

Nhà có 6 chị em nhưng không ai được học hành đến nơi đến chốn, đều bỏ dở giữa chừng, đứa đi làm thuê, đứa thì ở nhà làm ruộng rồi đi đánh dậm cùng mẹ khắp nơi. Năm 20 tuổi tôi đi lấy chồng và vẫn tiếp tục nghề đánh dậm, vất vả lắm nhưng nhà nghèo biết làm sao được”. Gương mặt chị già đi nhiều so với tuổi 37, đôi bàn tay chai sạn, nứt nẻ.

Năm này qua năm khác, người dân đánh dậm nhiều nên tôm tép cũng hết, chị em phải kéo nhau đi các xã lân cận hoặc xa hơn. Đi gần thì thường là đi bộ hoặc đi xe đạp, còn xa thì phải đi xe khách hoặc xe buýt vào nội thành thuê trọ nhà dân với giá rẻ khoảng 2 đến 3 nghìn đồng một tối. Tôm cá bắt được một phần đem về cải thiện bữa ăn, nhưng phần lớn thì đem bán ở các chợ ở Hà Nội…

Đánh dậm không phải là một công việc quá khó, nhưng lại là một nghề đặc biệt để người ta dựa vào đó mà đánh giá sự khéo léo và cần cù chịu khó của người phụ nữ làng Sào. Cái quan niệm ấy đã ăn vào tiềm thức của mỗi người dân nơi đây. Phụ nữ biết đánh dậm đồng nghĩa với việc biết làm ăn, đảm đang, khéo léo… nên đó là tiêu chí để đàn ông chọn làm vợ. Cô nào càng chăm chỉ đánh dậm thì càng được nhiều chàng trai chú ý. Ai lấy được vợ giỏi đánh dậm thì coi như có phúc.

Chị Hà tâm sự: “Thu nhập mỗi ngày cũng được khoảng 30 nghìn đến 40 nghìn đồng, thậm chí hơn, nhưng cũng có ngày không đủ tiền bữa sáng cho con. Những ngày bắt được nhiều cá, bán được nhiều tiền thì bù cho những ngày mưa gió không đi được mà tiền ngủ trọ vẫn phải trả”. Nắng mưa dãi dầm, những người phụ nữ như chị Hà quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để kiếm sống.

Không biết đánh dậm… khó lấy chồng

Chị Đỗ Thị Bảy, 46 tuổi tâm sự: “Hồi nhỏ, mẹ tôi thường dặn con gái trong nhà phải chú ý học mẹ cách đánh dậm để sau này còn lấy chồng. Con gái mà không biết đánh dậm thì khó lấy chồng.

Đánh dậm không phải là một công việc quá khó, nhưng lại là một nghề đặc biệt để người ta dựa vào đó mà đánh giá sự khéo léo và cần cù chịu khó của người phụ nữ làng Sào. Cái quan niệm ấy đã ăn vào tiềm thức của mỗi người dân nơi đây. Anh Nguyễn Văn Thạch nói: “Phụ nữ biết đánh dậm đồng nghĩa với việc biết làm ăn, đảm đang, khéo léo… nên đó là tiêu chí để đàn ông chọn làm vợ. Thời chúng tôi, con trai làng này lấy vợ là phải kén chọn rất cẩn thận, cô nào càng chăm chỉ đánh dậm thì càng được nhiều chàng trai chú ý. Ai lấy được vợ giỏi đánh dậm thì coi như có phúc”.

Bây giờ đánh dậm ngày càng khó khăn hơn nên người dân làng Sào bắt đầu chuyển sang học làm nón. Từ khi học làm nón phụ nữ trong làng có nhiều thời gian ở nhà với gia đình hơn, sáng đi đánh dậm chiều về làm nón, không như trước đây, đến làng Sào chỉ gặp đàn ông, người già hoặc trẻ con, còn phụ nữ đi đánh dậm cả ngày.

Chị Đặng Thị Hà - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Văn Võ nói: Truyền thống đánh dậm ở làng Sào có từ rất lâu rồi, do các cụ từ đời xưa để lại cho đến giờ phụ nữ trong làng vẫn còn giữ nghề. Công việc đánh dậm ngày càng khó khăn hơn nên chúng tôi đang vận động bà con chuyển sang học nghề làm nón. Nếu như có sự tập trung đầu tư với nghề này, chắc chắn người dân sẽ có thu nhập cao hơn và có công việc ổn định hơn”.

Út Nguyễn

source

http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=66601&ChannelID=92

Tuesday, 19 January 2010

Cây đa Tây Thiên



Cập nhật lúc 3:50:38 AM - 17/01/2010

248h1.jpg


Cổng đền Trình


Bài và ảnh: Trần Công Nhung

“Một chị chạy kiếm ông trưởng phòng, ông này cho biết có cây đa 9 gốc nhưng đường lên Tây Thiên khó đi lắm. Ông ta khuyên: ‘Có cây đa lịch sử ngay thị Xã Phú Thọ. Cây đa này còn ác chiến hơn nhiều, việc gì phải vất vả đi xa’. Nghe hữu lý, tôi hỏi rõ đường đi rồi đổi hướng lên Phú Thọ, cây đa Tây Thiên để bận sau”.

Trên là một đoạn trích trong loạt bài “Hành trình về Khâu Vai” (1). Cây đa ở Phú Thọ tuy to lớn nhưng chẳng có gì đặc biệt, tuổi đời và nét phong trần so với cây đa Thổ Hà (Bắc Giang), cây đa am Mỵ Châu (Cổ Loa), cây đa đền Dầm (Hà Tây) thì kém xa, chỉ được mỗi vinh dự mang ngọn cờ kháng chiến chống Pháp trong những ngày đầu năm 45. Chuyện này dành cho các sử gia, với tôi cây đa phải có thể dáng đẹp, lạ, phải mang vẻ phong trần năm tháng, phải nói được nỗi dày dạn của đời cây.

Tôi lại phải đi Tây Thiên. Tây Thiên nghe từa tựa Tây Trúc, “có lẽ cây đa nằm trong khuôn viên một cổ tự”. Nếu vậy chắc tuổi cây khá cao. Tính về gốc, cây đa Tây Thiên có 9 gốc, chỉ thua cây đa 13 gốc Hải Phòng. Cây đa 13 gốc tôi tìm không thấy đâu có hình ảnh, chỉ nghe nói và đã mất hai ngày đi tìm (2). Cây đa 9 gốc thì có trên internet. Trông lạ lắm.

Tây Thiên nằm trong vùng núi Tam Đảo, cách Hà Nội 85 km, có thể chạy xe gắn máy đi về trong ngày thong thả. Chỗ tôi trọ có cô hàng xóm nghe tôi đi Tây Thiên cứ năn nỉ xin theo:

- Chú cho cháu đi với, cháu chạy xe đèo chú. Nhân ngày nghỉ cháu muốn đi ra ngoài một hôm cho thoáng, ở nhà suốt chán chết.

- Cháu đi thế công việc nhà bỏ cho ai?

- Nhà nhiều người mà chú.

- Được, nhưng phải nói rõ cho trong nhà biết.

- Dạ, cảm ơn chú.

- Chú cũng nói trước, đi đây không như đi du ngoạn đâu. Chú đi là để làm việc và đôi khi không kịp giờ phải chạy, có đồng ý thì đi.


248h2.jpg


Điện thờ đền Thõng


Không cứ gì cô hàng hàng xóm này, mà nhiều người chỉ mới quen sơ, chuyện trò trong chốc lát rồi sinh ra tò mò cứ nằng nặc “Cho cháu theo với, bác cần gì cháu giúp”. Tôi lại nghĩ “Nhất cử tam tứ tiện vầy mà không nhận lời thì phụ lòng tha nhân quá”. Nhận lời, lại thêm trách nhiệm...nhưng, quá lo xa thì còn làm được gì.

Khởi hành, cô bạn trẻ giành chạy xe, tôi bảo “Ra ngoài thành phố cháu thay chú”.

Chúng tôi theo lộ trình như lần đi chợ tình Khâu Vai. Qua khỏi thành phố Vĩnh Phúc có đường đi Tây Thiên chừng 20km. Con đường nhựa hẹp bằng nửa mặt đường Quốc lộ. Càng đi càng vào sâu trong thôn xóm, có chỗ sát núi, những khu rừng hoa sưa (không phải hoa sữa) cao xanh theo triền núi. Đến một ngã ba: Rẽ phải lên thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, đi thẳng vào đền Thõng, nơi có cây đa 9 gốc. Trước khi vào đền Thõng qua đền Trình, đang được trùng tu. Cổng đền Trình rất bề thế, có cây sấu cổ thụ khá đặc biệt, tán rợp mát một vùng, vài ba quán giải khát chẳng có ai ngoài đám trẻ con đùa ngịch . Nhiều Chùa Đền miền Bắc, trước khi vào lễ đền chính, phải cúng xin phép ở đền Trình. Tôi nghĩ, đây chẳng qua lợi dụng lòng mê tín của bá tánh, cúng vái, nhang đèn càng nhiều càng được phước. Từ đó đẻ thêm Đền Trình (Chùa Hương, Đền Gióng, Đền Thõng…...) cho thêm long trọng, và cũng là cách moi tiền (công đức) khách thập phương. Trong miền Nam, tôi chưa gặp nơi nào có đền Trình.

Đoạn đường vào Đền Thõng có chỗ chưa tráng nhựa, nhưng cũng dễ đi. Qua khỏi xóm nhà cây cối um tùm, từ xa đã hiện ra một khóm rừng cao xanh, thấp thoáng mái ngói đỏ. Tôi đoán chừng đền Thõng, cây có tàn lá vươn cao hẳn là cây đa 9 gốc. Cạnh lối vào Đền có một hồ nước lớn, một chiếc thuyền nan, mộc mạc quê mùa, không thanh lịch đài các như hồ công viên thành phố. Tôi dừng lại ngắm cảnh trí cô đọng, nổi bật trên nền núi xanh, thanh vắng và êm đềm. Tôi thích cái tĩnh mịch nơi Chùa Đền. Nhưng đời thường ngược lại, nơi lễ bái, linh thiêng là nơi nhốn nháo mua bán. Ai cũng nhân danh Thần Thánh quảng bá dịch vụ của mình, từ hàng nhang đèn đến hướng dẫn viên du lịch thao thao như thật, cốt sao lọt tai du khách là được.

Vào cổng Đền, mới thấy nhiều quán hàng trong sân, khách vắng tanh. Một cậu choai choai đang ngồi chơi trước sân Đền thấy tôi chạy xe vào, vội đứng dậy cầm cây roi tre huơ huơ quát: “Xe gửi ngoài kia”. Tôi gai mắt trước thái độ hỗn xược, nên thuyết cho một hồi, cậu ta mới lơ đi nơi khác.


248h3.jpg


Cây đa “9 gốc”


Cây đa Tây Thiên quả thật lạ, gốc như những cột đình cao đến mười mấy mét, từ trên một thân cây nằm nghiêng buông xuống đất, cây đa không có gốc chính. Có thể từ lâu lắm gốc mẹ đã rục rã giống như trường hợp cây đa đền Dầm (thờ Đức Trần Hưng Đạo 700 năm trước, gốc mẹ đang trong thời kỳ bị hủy dần). Tôi quan sát kỹ và đếm được 12 gốc lớn nhỏ. Gốc cấu tạo theo hình chóp nón, thế rất vững. Đứng phía nào trông cũng đẹp, một loại cây đa ít thấy. Nhưng vẻ bề thế, vạm vỡ oai vệ của một đại thụ thì không. Đa không có thân chính cành nhánh thon thả được phân phối hài hòa, mang nét “phong nhã thanh lịch” của một công tử. Tôi mải lo chụp ảnh và ngắm xem từng gốc của cây đa, một anh chụp hình dạo, đến làm quen:

- Chú thấy giống con nai không? Chú đứng phía bên này đẹp hơn.

- Tôi nghe nói cây đa 9 gốc mà đếm thì 12?

- Thực ra chỉ có 8 gốc thật, còn 4 gốc giả, chú nhìn kỹ thấy ngay.

Đúng thế thật, những gốc nhân tạo có phần lớn hơn, phải công nhận nghệ nhân đắp rất khéo, màu da mốc giống hệt, vỏ sần sùi nhìn khó biết thật giả. Nhưng chỉ mấy giây, tôi nhận ra điều dại dột của người làm “văn hóa mỹ thuật”, đang có của thật đáng giá lại biến thành đồ giả cho thiên hạ chê cười. Cây đa vốn chỉ 8 gốc, khi thêm 1 gốc giả có lẽ được báo chí loan tin khen ngợi nên “cơ quan chức năng” phóng luôn 12 gốc, đủ một tá cho oai, 12 gốc chưa thấy tài liệu nào nói. Rồi đây được dư luận khen, gốc đa sẽ thêm gốc để thành cây đước, cây mắm cũng nên (3).

Đền Thõng nằm giữa khuôn viên rộng nhiều cây cối, Đền như một ngôi đình làng nhỏ, kiến trúc đơn giản, ba gian hai chái, cửa bàn khoa. Theo bảng cáo thị toàn bộ cột kèo bằng gỗ quí ( Lim Sến, Táu, Xà Cừ). Nguồn gốc sự tích ngôi đền chỉ vỏn vẹn mấy chữ: “Đền Thõng thờ Quốc Mẫu thuộc khu danh thắng Tây Thiên”, còn lại là liệt kê bao nhiêu viên gạch, bao nhiêu viên ngói, bao nhiêu ngày công, bao nhiêu tiền...và công lao quan chức...Du khách chẳng biết được gì thêm.

Bước lên tam cấp đã có một “Hòm công đức” ngay cửa. Một bảng “Cấm đốt hương”. Thông thường các Đền Chùa ngày nay có một lư hương lớn trước sân để người đi lễ cắm nhang, đền Thõng thì không. Đền vắng hoe không có ông Từ. Trong Đền, hương án, bàn thờ sơn son thếp vàng, lọng vàng, câu đối hoành phi...song kém vẻ trang nghiêm, đầy bụi bặm không ai quét dọn. Bên hông Đền là dãy nhà dài, nhiều kệ xếp chén bát soong chảo, như là nhà ăn của một tập thể. Sau lưng Đền còn những nhà nhỏ có bàn thờ và “hòm công đức”… Có một bệ thờ quan đại thần, râu ria áo mão, song quá luộm thuộm, hòm công đức to gần bệ thờ. Tôi có cảm tưởng thờ tự chỉ là cái cớ để hợp lý hóa “hòm công đức” mà thôi.

Ghé vào quán giải khát, mới mớm vài câu, các bà quán đã nói ngay: “Đền do (...) khoán cho bọn đầu gấu thu tiền công đức, tiền giữ xe...bọn này ngang tàng lắm, ông coi chừng...”. Quả thực phong quang cảnh trí không có gì ý nghĩa thi vị, ngoài cây đa 9 gốc. Tiếc thay cây đa lại cũng bị hóa trang hơi nhiều. Những ai chưa đến tận nơi khó mà biết thực hư. Một (...) nổi tiếng văn hóa mà đi đâu cũng gặp toàn đồ giả mạo. Thiệt thòi cho đời sau biết chừng nào.


248h4.jpg


Toàn cảnh đền Thõng


Tìm cây đa Tây Thiên, tôi có dịp biết thêm sự tích đền Thõng và danh thắng Tây Thiên: Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, Năng Thị Tiêu (vợ Vua Hùng), người đã có công lập binh mã giúp Vua Hùng đánh giặc giữ nước. Đền tọa lạc nơi chân núi xã Đại Đình huyện Tam Đảo. Đền theo tín ngưỡng cổ truyền mỗi năm có lễ hội “Mở cửa rừng” vào mùa Xuân. Đền Thõng như cửa ngõ để khách hành hương làm lễ “trình” trước khi lên núi, vào với thế giới thiêng liêng Mẫu ngự. Đền Thõng là điểm đầu trong chuỗi danh thắng Tây Thiên.

Đi tìm danh lam thắng cảnh đôi khi gặp những chuyện linh tinh đời thường, cũng không kém phần thú vị. Hôm đó đã quá trưa, quán hàng đơn sơ, ăn uống không bảo đảm, chúng tôi chạy về phố Vĩnh Phúc, nhưng trên đường qua thôn xóm, gặp nhà hàng Hà Xuyên (Hợp Châu Tam Đảo) có món “Lợn cắp nách, gà quê...”, chúng tôi ghé vào. Quán tranh vườn rộng vắng khách, tôi hỏi đặt nhà quán làm cho một con gà. Chỉ một lúc, chủ quán đã bê lên con gà tơ vàng nóng hổi, thơm phức, đúng là gà đi bộ. Gà đi bộ ở Cali thực ra là toàn đi xe buýt, thịt không chắc, không thơm đúng mùi gà ta. Lâu lắm mới có dịp thưởng thức món gà ta đúng nghĩa. Nha Trang có xôi gà Huỳnh Lai, tôi thường ăn, bởi thịt gà khá thơm, da mỏng không mỡ, nhưng so với gà vuờn Tam Đảo thì kém xa.

Nếu còn dịp về Tam Đảo, thế nào cũng ghé lại Hà Xuyên lần nữa. Công việc đến cứ làm, gặp dịp thì thưởng thức, đúng lúc thì nghỉ ngơi, không việc gì phải ràng buộc vào điều này lẽ nọ cho mệt, cụ Trứ đã dạy:


“Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,

Nếu không chơi thiệt ấy ai bù”


Trần Công Nhung

06-2008


(1)Trang 61 QHQOK tập 9

(2)Trong QHQOK tập 10

(3)Loại cây “phòng hộ” những vùng nước mặn trong Nam, gốc là một chùm rễ.


Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 9, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện tình trên quê hương), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, mỗi tác phẩm đều có nhiều phụ bản ảnh màu.


Liên lạc: Tran Cong Nhung P.O.Box 254 Lawndale, CA. 90260. email:trancongnhung@yahoo.com Website: www.ltcn.net
source
Vien Dong Daily

Wednesday, 13 January 2010

Nghề “cạp đất” nhọc nhằn



Cập nhật lúc 2:46:04 AM - 17/11/2009

capdat7.jpg

Đưa đất từ dưới mặt nước lên xuồng rất nặng nhọc – ảnh: Nguyên Thảo/Viễn Đông

Nguyên Thảo/Viễn Đông


Không biết từ bao giờ, hễ khi có lũ về thì người nông dân ở Miền Tây ra đồng lặn hụp xuống ruộng nước để đào lên những cục đất to bằng cái thúng rồi quăng lên xuồng đẩy đất vào đắp nền nhà, đắp đường lộ, hay là sang lấp mương… Theo kinh nghiệm của nông dân, những ruộng đất không bằng phẳng là ruộng không hiệu quả, nên mùa nước nổi chủ ruộng đánh dấu những chỗ đất gò (trồng lúa không trúng), cho lấy đi lớp đất mặt để sau một mùa lũ, phù sa bồi đất trở lại, như vậy làm lúa trúng hơn vào mùa sau. Ngày xưa thì nhà ai nấy làm nhưng bây giờ, xã hội phân hóa giàu nghèo rõ rệt, nên chủ ruộng bây giờ đa phần là giàu, còn người nghèo cầm cố đất, bán ruộng non hết… thế là họ phải đi “cạp đất” mướn cho chủ ruộng mới, mà đất có khi trước đây là của mình.

capdat2.jpg


Những cục đất to phải dùng hết sức mới vận chuyển được – ảnh: Nguyên Thảo/Viễn Đông


Cả ngày ngâm mình trong biển nước và bùn sình từ sớm hừng đông tới tối mịt, những người làm nghề “cạp đất” chỉ kiếm được 30.000 đồng- 35.000 đồng. “Sắt thép ngâm lâu ngày trong nước còn mục nát, nói chi da thịt con người! Cái nghề cứ lên bờ một chút là mốc cời, hơi sình non xà bông cũng không xóa được, phèn ăn vàng khè hết 10 ngón tay, 10 ngón chân, nước ăn chân tay lầy lở, hôi rình, cái nghề bần hèn ít ai muốn làm…! Nhưng nghèo cũng phải làm thợ ‘cạp đất’, ‘móc bùn đổi gạo’ - Anh Hồ Hùng nói vậy…


capdat6.jpg


Có khi phải dùng miếng ván để chuyển đất theo kiểu tiếp sức – ảnh: Nguyên Thảo/Viễn Đông


Trời chưa sáng nhưng nhóm thợ “cạp đất” ở ấp Phú Hòa, xã Bình Hòa (Châu Thành, An Giang) đã lui cui chống xuồng tập trung ở khoảng vườn nhà bà Tám, nơi họ “hành nghề” gần một tuần nay. Hùng, 40 tuổi, người lớn nhất trong nhóm và được phong hàm “đội trưởng”, phân bua: “Mấy ngày nay làm gần nhà nên trời hừng sáng mới tập trung. Những bữa chở đất xa, 3-4 giờ sáng là cả bọn đã phải chống xuồng băng đồng đến nơi làm việc”.


capdat3.jpg


Ở trần chống xuồng chuyển đất – ảnh: Nguyên Thảo/Viễn Đông


Nhóm thợ “cạp đất” ở Phú Hòa đã có thâm niên hơn 15 năm trong nghề. Năm nào cũng vậy, vào tháng 7 âm lịch khi con nước vừa tràn đồng là nhóm thợ “cạp đất” của Hùng bắt đầu chuẩn bị ra quân. “Làm từ tháng 7 nước lên đến tháng 11 nước giựt mới nghỉ!” - Em Trần Văn Hậu 21 tuổi, trẻ nhất nhóm nhưng làm nghề “cạp đất” từ năm 11 tuổi, khoe.

Khi biển nước trên cánh đồng Tứ giác Long Xuyên vẫn mịt mờ sương thì 15 thợ “cạp đất” trong nhóm của Hùng bắt đầu cho một ngày làm việc mới. Hùng chỉ huy 5 chiếc xuồng với 10 người chống sào lướt ra đồng nước. Năm thợ đắp đất do Tú chỉ huy còn ngồi nán lại trên bờ, chia nhau những hơi thuốc lá rẻ tiền cuối cùng. Tú nói: “Phải nửa tiếng nữa xuồng đất đầu tiên mới vào tới bờ”.

Tôi nhìn mông lung ra phía cánh đồng, xa xa khoảng gần 200 mét, đoàn quân của Hùng đã bắt đầu lặn hụp trong biển nước lạnh giá, móc đất chất lên xuồng. Đúng như Tú nói, gần 30 phút sau chiếc xuồng đầu tiên khẳm đừ, chở khoảng 10 khối đất vuông vức (mỗi khối vừa sức một người vác lên vai) ì ạch lướt sóng vào bờ. Nhóm thợ đắp của Tú lập tức nhảy xuống nước đón chiếc xuồng và nhanh tay chia nhau từng khối đất đắp nền nhà.


capdat4.jpg


Hì hục chuyển đất – ảnh: Nguyên Thảo/Viễn Đông


Vừa làm, Tú vừa tranh thủ cho biết: “Trung bình mỗi xuồng chở được khoảng nửa khối đất, giá 3.500 đồng/xuồng. Nếu đoạn đường từ nơi đào đất đến nơi đắp nền xa hơn thì giá tiền càng cao hơn”. Tú cho biết, nếu làm hết sức, dầm thân trong bùn nước từ sáng sớm đến tối mịt thì có thể chở được 20 chuyến, mỗi thợ chia nhau được 35.000 đồng, thợ đắp nền như Tú cũng được 30.000 đồng-35.000 đồng/ngày.

7 giờ sáng nhóm thợ “cạp đất” của Hùng - Tú dừng tay để... ăn sáng. Họ lục đục lôi trong gốc chuối ra những thau cơm nguội lạnh tanh được mang theo, chia nhau mỗi người một góc ngồi ăn ngon lành dù từ đầu tới chân tóc tai, quần áo ướt lướt thướt và bê bết bùn sình. Tôi tò mò rảo một vòng nhìn vào khẩu phần ăn sáng của nhóm thợ “cạp đất”, cơm trắng với vài con khô chiên, cá khô bé xíu và mấy trái ớt xanh, có khi mấy anh em còn hái cả bông súng, rau muống hay là bắp chuối ăn dặm cho đủ no. Hòa, thợ đắp nền, nói vui: “Như vầy là sang lắm đó anh, bữa nào kẹt quá vợ tôi còn cho ăn cơm với... dưa mắm”.


capdat5.jpg


Nhộn nhịp vận chuyển đất từ ruộng vào nhà – ảnh: Nguyên Thảo/Viễn Đông


Trong lúc ăn bữa sáng đạm bạc, những người thợ “cạp đất” cho tôi biết cái nghề “cạp đất” cũng không phải dễ ăn nếu không có sức khoẻ. Chỉ đơn cử nhóm làm công việc xắn đất và vận chuyển, mỗi chiếc xuồng 2 người, một người xắn, một người chở nhưng phải thay phiên nhau, người ngâm dưới nước xắn đất bị lạnh thì “đổi ca” leo lên xuồng, chống sào vận chuyển để có cơ hội... phơi nắng cho ấm. Riêng đám thợ đắp nền thì nhẹ nhàng hơn, khi xuồng đất vào tới nơi mới có “công ăn việc làm” nhưng người ngợm lúc nào cũng lấm lem. Tú và nhiều thợ “cạp đất” đưa cho tôi xem những kẻ tay, kẻ chân lở lói rướm máu vì bị nước ăn, bùi ngùi nói: “Làm nghề móc đất đổi gạo này ai cũng bị bệnh ngoài da, cảm cúm thường xuyên”.

Cái nghề bạc bẽo này lại làm nên những bữa ăn nuôi sống hàng chục ngàn gia đình nghèo ở vùng nông thôn miền Tây từ nhiều năm nay.
******************
source
Vien Dong Daily

Friday, 8 January 2010

Những em bé trong sương núi Sapa


- Sa Pa (thuộc tỉnh Lào Cai), địa danh du lịch nổi tiếng, là niềm khao khát của biết bao du khách. Nhưng cũng Sa Pa, ở một góc khuất nào đó, là cuộc sống đầy khó khăn vất vả của những em bé vùng cao.

Để thấy được những nét sinh hoạt phong phú của người dân tại Sapa, người ta tìm đến chợ Sapa sầm uất. Và ra chợ, để thấy được cận cảnh cuộc sống vất vả của các em thiếu nhi vùng cao.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.

Có em bé phải theo mẹ ra chợ từ sáng sớm. Nhiều em đã đến tuổi “kiếm tiền”, lưng địu gùi hoặc đeo túi chéo. Bên trong là những món hàng du lịch đơn sơ: vải thổ cẩm, túi hoặc đồ trang trí thêu tay…

Mô tả ảnh.

Hai chị em cùng đi bán hàng. Chiếc gùi sau lưng tuy nhẹ nhưng gánh nặng cuộc sống mà nó đặt lên vai dường như quá sức với các em.

Mô tả ảnh.

Tóc bết vì sương sớm, nét mặt em Vàng Thị Mỉ- 12 tuổi đã lộ rõ vẻ mệt mỏi. Buổi chợ mới chỉ bắt đầu.

Mô tả ảnh.

Trẻ em có mặt ở khắp mọi nơi, tìm mọi cách để du khách phải mua hàng hoặc… cho không thì càng tốt. Nhiều em khôn ngoan đòi tiền chụp ảnh với khách du lịch và che mặt quay đi khi chưa thấy tiền…

Những em bé nhỏ tuổi hơn thì ngồi đốt lửa sưởi cho tan cái tê buốt của mùa đông lạnh giá... Những em bé nhỏ tuổi hơn thì ngồi đốt lửa sưởi cho tan cái tê buốt của mùa đông lạnh giá...

Những em bé nhỏ tuổi hơn thì ngồi đốt lửa sưởi cho tan cái tê buốt của mùa đông lạnh giá...

....hoặc túm tụm trèo cây hoặc đánh trận giả. ....hoặc túm tụm trèo cây hoặc đánh trận giả.
....hoặc túm tụm trèo cây hoặc đánh trận giả.
Mô tả ảnh.
Tivi là thứ xa xỉ với trẻ em nơi đây.
Mô tả ảnh.

Nhưng dù thế nào các em vẫn không hề mất đi những nét hồn nhiên đáng yêu, đó là vẻ đẹp thơ ngây, lấp lánh toả sáng và vẫn ngời lên trong sương núi…

  • Quỳnh Anh
  • source
  • Những em bé trong sương núi Sapa

    Cập nhật lúc 07:46, Thứ Bảy, 09/01/2010 (GMT+7)
  • http://www.vietnamnet.vn/bandocviet/bandoc/201001/Nhung-em-be-trong-suong-nui-Sapa-888580/