Friday, 24 June 2011

Nội tình Trung Quốc bất ổn, biển Đông nổi sóng


Thứ năm 23 Tháng Sáu 2011
Nội tình Trung Quốc bất ổn, biển Đông nổi sóng

Cảnh một chiếc xe cảnh sát bị lật và đốt trong một cuộc nổi dậy của dân chúng, tại một thành phố gần Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), 11/6/2011.
Cảnh một chiếc xe cảnh sát bị lật và đốt trong một cuộc nổi dậy của dân chúng, tại một thành phố gần Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), 11/6/2011.
REUTERS/Stringer
Tú Anh

Quan hệ hại nước láng giềng Việt Nam –Trung Quốc đột ngột căng thẳng. Tại Việt Nam, những cuộc biểu tình tự phát chống chính sách bá quyền xảy ra trong ba ngày chủ nhật liên tiếp. Ngoài biển khơi, tàu hải quân trá hình của Bắc Kinh cũng liên tục tấn công ngư thuyền của Việt Nam, trước khi xâm hại vào tàu thăm dò địa chấn của tập đoàn dầu hỏa nhà nước. Vào lúc Bắc Kinh phô trương sức mạnh ngoài biển Đông, nội tình lại có nhiều rối ren từ kinh tế, xã hội đến chính trị.

Từ sau lời cảnh báo của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo hồi tháng ba năm nay, nhân khai mạc khóa họp thường niên quốc hội là « dân chúng đang căm hận chế độ », nội tình tại Trung Quốc ngày càng xấu đi.

Thông tin chính thức xác nhận vật giá tiếp tục đi lên với tỷ lệ lạm phát 6% trong tháng 6 này.

Chỉ trong vòng có vài hôm mà thịt heo tăng đến 4,8% trong khi rau quả ở nhiều địa phương vọt lên 40%.

Để đối phó với tình trạng khan hiếm thực phẩm, Trung Quốc không ngần ngại cho người sang Việt Nam thu mua thịt heo bằng mọi giá.

Thiên tai hạn hán và lũ lụt hoành hành tại 13 tỉnh làm giá lúa mì, giá gạo tăng từ 60% đến 70%. Đời sống người dân khó khăn thêm cộng với nạn tham ô và lạm quyền của bộ máy nhà nước đã gây ra hơn 130 ngàn vụ nổi dậy trong năm ngoái.

Báo chí Tây phương nhận định mô hình « kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc » đã phá sản. Mọi thành phần xã hội đang tranh đấu đòi hủy bỏ khẩu hiệu « ổn định xã hội phát triển kinh tế » mà thực chất chỉ là chiêu bài bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho một thiểu số.

Trong thời gian qua, những cuộc biểu tình phản kháng của dân chúng càng ngày càng mang tính bạo động mà đối tượng tấn công là giới cán bộ chính quyền và lực lượng công an cảnh sát.

Trong khi đó, ngoài biển Đông, Trung Quốc liên tục « nắn gân » các quốc gia láng giềng từ Hàn Quốc, Nhật Bản ở phía bắc xuống tận Việt Nam, Philippines ở phía nam với lý do bảo vệ « lãnh hải » kéo dài đến sát cạnh Indonesia.

Thực ra lập luận « đường lưỡi bò » của Bắc Kinh không thuyết phục được công luận quốc tế. Ngay tại Trung Quốc, trong giới trí thức cũng có tiếng nói khác biệt. Giáo sư Chu Phong, khoa bang giao quốc tế, đại học Bắc Kinh gián tiếp chỉ trích đảng Cộng sản Trung Quốc khi nhận định rằng : «không phải chủ trương của bộ chính trị quyết định biển Đông là một bộ phận quyền lợi sinh tử của Trung Quốc , vấn đề là nếu cải chính công khai, thì sẽ tạo ấn tượng là ban lãnh đạo lùi bước với hệ quả là đụng chạm đến tinh thần dân tộc của người Trung Hoa».

Nói cách khác, ban lãnh đạo Trung Quốc làm biển Đông dậy sóng vì, ngoài tham vọng lãnh hải, an nguy chế độ đang bị đe dọa.

Mời quý thính giả theo dõi phần phân tích của giáo sư bang giao quốc tế Lê Đình Thông, đại học Paris-Nanterre.

«Tình hình Trung Quốc được tiên đoán sẽ mất ổn định, trước cuộc chuyển giao quyền lực từ thế hệ lãnh đạo thứ tư sang thế hệ thứ năm vào năm 2012 ...»

Giáo sư Lê Đình Thông (Paris)

TRUNG QUỐC - XÃ HỘI -
Bài đăng : Thứ sáu 24 Tháng Sáu 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ sáu 24 Tháng Sáu 2011

Trung Quốc muốn xã hội hài hòa nhưng lòng dân bất hòa
Công nhân tập thể dục tại một nhà máy ở tỉnh Hà Bắc, ngày 20/06/2011
Công nhân tập thể dục tại một nhà máy ở tỉnh Hà Bắc, ngày 20/06/2011
REUTERS
Tú Anh

Nhân danh xã hội hài hòa, chính quyền Trung Quốc áp đặt giải pháp thỏa hiệp bên ngoài tòa án. Dưới sự chỉ đạo của đảng Cộng sản, thẩm phán biến thành trợ lý công an, không dám tố giác sự thật và thi hành pháp luật công minh. Hậu quả là tòa án trở thành cơ quan bù nhìn, còn ở ngoài xã hội, lực lượng dân oan ngày càng đông.

Cựu chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân lúc cầm quyền đã đưa ra một chính sách gọi là « xã hội hài hòa » nhằm hóa giải mọi tranh chấp có thể dẫn đến một cuộc nổi dậy như vụ phong trào Mùa Xuân Bắc Kinh.

Theo báo mạng Asia News, người hậu thuẫn đường lối này một cách hăng say tại Trung Quốc là chủ tịch Tòa án Tối cao Vương Thắng Tuấn.

Thay vì giải quyết tận gốc những tranh chấp mà phần lớn bắt nguồn từ nạn tham ô, lạm quyền, các tòa án Trung Quốc đề ra giải pháp gọi là « điều giải » tức là « điều đình và hòa giải » bên ngoài tòa án. Tân Hoa Xã gọi đây là sáng kiến phát huy « văn hóa luật pháp truyền thống, chú trọng hài hòa, giảm thiểu bất đồng, chấm dứt xung khắc ».

Thế nhưng, cũng chính nhân vật này, trong một cuộc hội thảo trong giới thẩm phán, mới đây đã phải tỏ ý quan ngại tình trạng xuống dốc thấy rõ của « nhà nước pháp quyền ».

Theo thẩm định chính thức, thì trong năm qua đã xảy ra hơn 180 ngàn vụ bạo loạn trên toàn quốc.

Từ mùa xuân đến nay, chỉ trong vòng ba tháng, Hoa lục đã bị chấn động vì nhiều vụ phản kháng với hình thức thật kinh hoàng, trong đó có sự kiện một nông dân ôm bom tấn công tự sát vào cơ quan công quyền.

Nhiều trường hợp xung đột bạo lực kéo dài giữa dân và lực lượng quân cảnh chống bạo động như ở Nội Mông, Hồ Bắc và Quảng Đông.

Đầu năm 2009, mọi ban ngành gồm cảnh sát, công an, công tố, Đảng và các cơ quan chính phủ đều tham gia vào nỗ lực đạt chỉ tiêu « điều giải » trong khi tòa án lên tuyến đầu phát huy « văn hóa hòa giải ». Theo chủ tịch Tòa án Tối cao, những vụ kiện tụng liên quan đến tranh chấp thương mại được giải quyết « bên ngoài tòa án » ở nhiều tỉnh đã lên đến tỷ lệ 65%. Do vậy, trong năm đó, ông chỉ thị tòa án Trung Quốc đóng vai trò « nâng cao tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, nâng cao ổn định chính trị xã hội ». Và ông tuyên bố rằng thẩm phán vừa là cán bộ tư pháp vừa là trợ lý xã hội.

Thế nhưng, chính sách đặt thỏa hiệp lên trên luật pháp bị chỉ trích và đã đưa đến hậu quả nguy hiểm.

Cụ thể là hồi tháng Sáu năm nay, trước ngày tưởng niệm vụ thảm sát Thiên An Môn 1989, cảnh sát và thẩm phán Bắc Kinh đề nghị với thân nhân các sinh viên bị giết chết một số tiền bồi thường, đổi lại sự im lặng vĩnh viễn không đòi xét lại vụ án.

Lập tức, Hiệp hội các bà mẹ Thiên An Môn đã tố cáo chính quyền hối lộ và xúc phạm đến vong linh các sinh viên tranh đấu cho dân chủ.

Trường hợp điển hình thứ hai là vụ tai tiếng sữa nhiễm melamine làm hàng gần 300 ngàn trẻ em lâm bệnh.

Thay vì xử tội thủ phạm và bồi thường cho nạn nhân, chính quyền Trung Quốc đã dùng các biện pháp trấn áp, dọa nạt không cho đưa vấn đề ra pháp đình. Luật sư Triệu Liên Hải bị bắt giam, nhiều cha mẹ nạn nhân bị câu lưu.

Sau nhiều đợt trấn áp bất thành, chính quyền phối hợp với các công ty áp dụng chính sách « « hài hòa » vừa đưa tiền vừa dọa nạt. Cuối cùng 270 000 gia đình nhận 910 triệu nhân dân tệ đền bù, vì không còn cách nào khác khi tòa án không chịu thụ lý hồ sơ kiện tụng.

Khi tòa án không dựa vào luật pháp thì chuyện gì phải tới đã tới. Nhân danh xã hội hài hòa, tòa án Trung Quốc đã tuyên bố bản án 11 năm tù cho nhà dân chủ Lý Hiểu Ba, giải Nobel Hòa Bình 2010.

Trong bối cảnh « mùa xuân Ả Rập », cán cân công lý tại Trung Quốc đã mất hết ý nghĩa. Hàng loạt những nhà bất đồng chính kiến với Đảng đột nhiên mất tích như Cao Trí Thịnh hoặc bị truy tố tội « trốn thuế » như Ngải Vị Vị.

Người dân oan chỉ còn đường phố để chống bất công.





source
RFI Vietnamese

Tuesday, 21 June 2011

Tàu sân bay Trung Quốc có thể “trình làng” tuần tới


Tàu sân bay Trung Quốc có thể “trình làng” tuần tới

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc - được nâng cấp từ con tàu cũ thời Liên Xô - sẽ bắt đầu được thử nghiệm trên biển trong tuần tới, một tờ báo vừa đưa tin.

Hình ảnh về tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc Ảnh: silobreaker


Hồi đầu tháng này, ông Trần Bỉnh Đức, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã xác nhận việc nước này đang xây dựng tàu sân bay lớn. Đây là thừa nhận lần đầu tiên về sự tồn tại của con tàu từ chương trình quân sự luôn được giữ kín của Trung Quốc.

Hôm nay (21/6), Nhật báo Thương mại Hong Kong, tờ báo từng công bố thông tin xác nhận làm tàu của ông Trần Bỉnh Đức, đã dẫn nguồn tin quân sự giấu tên nói rằng, tàu sân bay sẽ chạy thử trên biển vào 1/7 nhưng chưa chính thức hạ thuỷ cho tới tháng 10.

Nguồn tin trên nhấn mạnh, việc chạy thử được tăng tốc giữa lúc có nhiều diễn biến căng thẳng trên Biển Đông – vùng biển giàu tài nguyên dầu khí và là nơi diễn ra tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa Trung Quốc với bốn quốc gia Đông Nam Á. Theo nguồn tin này, quân đội Trung Quốc “hy vọng con tàu sẽ thể hiện sức mạnh của lực lượng hàng hải trong việc ngăn chặn các quốc gia khác chú ý tới Biển Đông”. Nguồn tin cho biết thêm, lịch trình chạy thử trên biển được chọn lựa để kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng nhiều yếu tố như thời tiết có thể ảnh hưởng tới kế hoạch thử nghiệm.

Hiện phía quân đội Trung Quốc chưa đưa ra phản ứng nào về thông tin mới nói trên.

Theo giới phân tích, con tàu sân bay đang đậu ở cảng Đại Liên, phía đông bắc Trung Quốc là một trong những bí mật khó giữ kín nhất của nước này. PLA – quân đội lớn nhất thế giới – nổi tiếng trong việc giữ bí mật các chương trình quốc phòng.

Con tàu nói trên được xây dựng từ những năm 1980 cho hải quân Liên Xô nhưng chưa bao giờ được hoàn thành. Khi Liên Xô tan rã, tàu Varyag nằm ở xưởng đóng tàu tại Ukraine. Một công ty Trung Quốc có liên quan tới PLA đã mua lại Varyag với lời khẳng định muốn biến con tàu trở thành một sòng bạc nổi tại Macau.

Theo các chuyên gia quân sự, con tàu được cho là sắp hoàn thành và có thể bắt đầu thử nghiệm trên biển vào cuối năm nay. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sau đó nó sẵn sàng đảm nhận sự mệnh của mình. Giới phân tích nhận định, học cách điều hành nó thế nào, rồi máy bay sử dụng trên tàu ra sao sẽ phải mất ít năm nữa.

Hồi đầu tháng khi ông Trần xác nhận tin Trung Quốc làm tàu sân bay, một trợ lý của ông đã cho hay, thậm chí kể cả sau khi tàu sân bay triển khai, thì “chắc chắn nó sẽ không tiến vào vùng lãnh hải của các nước khác”. "Tất cả quốc gia lớn trên thế giới đều có tàu sân bay, chúng là biểu tượng của một nước lớn”, vị này nhấn mạnh.

· Thái An (Theo economictimes)

source

http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/26823/tau-san-bay-trung-quoc-co-the--trinh-lang--tuan-toi.html

Wednesday, 15 June 2011

Philippines nhổ các cột trụ của nước ngoài trên vùng quần đảo Trường Sa


PHILIPPINES - TRUNG QUỐC - BIỂN ĐÔNG -
Bài đăng : Thứ tư 15 Tháng Sáu 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 15 Tháng Sáu 2011
Philippines nhổ các cột trụ của nước ngoài trên vùng quần đảo Trường Sa
Biểu tình tại Manila, đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc, phản đối sự xâm lấn của Trung Quốc tại vùng quần đảo Spratly/Trường Sa, 8/6/2011.
Biểu tình tại Manila, đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc, phản đối sự xâm lấn của Trung Quốc tại vùng quần đảo Spratly/Trường Sa, 8/6/2011.
REUTERS/Romeo Ranoco
Anh Vũ

Theo AFP, hôm nay 15/06/2011 Philippines thông báo hải quân của họ đã nhổ những cột trụ “lạ” cắm trên ba dải đá ngầm nằm trong khu vực Biển Đông đang có tranh chấp. Hồi tháng 5, tức là trước khi chính thức lên tiếng phản đối tàu Trung Quốc xâm nhập lãnh hải của mình, Manila đã cho triển khai việc nhổ các cột trụ bằng gỗ như vậy.

Phát ngôn viên hải quân Philippines, ông Omar Tonsay, không nói rõ những cột trụ nói trên là của ai cắm xuống, chỉ giải thích với AFP rằng "những cột trụ này được coi là lạ vì nó không do quân đội hay chính phủ Philippines cắm xuống. Chúng tôi nhổ đi vì những nơi đó thuộc phần lãnh thổ của Philippines".

Gần đây, chính quyền Manila đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc cho dựng chòi canh và phao mốc trong khu vực mà Philippines đòi chủ quyền.

Các cột trụ bị nhổ đi đã được cắm trong vùng quần đảo Trường Sa, xung quanh khu vực có tên gọi Amy Douglas Bank và Red Bank. Đây là các vị trí nằm trong khu vực đang có tranh chấp chủ quyền giữa Philippines, Trung Quốc, Việt Nam và những nước khác là Brunei, Malaysia và Đài Loan.

Bất đồng kéo dài về chủ quyền lãnh hải này trong tháng qua đã trở nên căng thẳng hơn khi Philippines và Việt Nam nhận thấy Trung Quốc ngày càng tỏ ra hiếu chiến hơn trong các đòi hỏi về chủ quyền lãnh hải trong vùng biển tranh chấp. Trên thực tế, Trung Quốc đã liên tục có những hành động gây hấn trên biển với hai nước này. Philippines lên án Trung Quốc trong vòng 4 tháng qua đã 7 lần xâm phạm lãnh hải và tấn công các tàu cá của Philippines, trong đó có những lần tàu Trung Quốc còn nổ súng vào ngư dân và thường xuyên đe dọa tàu thăm dò dầu khí của Philippines. Trung Quốc cũng thường xuyên có những hành động tương tự đối với Việt Nam.

Căng thẳng tại khu vực Biển Đông đã tăng thêm một mức trong mấy ngày qua, đặc biệt khi tổng thống Benigno Aquino hôm qua tuyên bố Philippines cần có sự giúp đỡ của Mỹ để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

source

RFI Vietnamese

Monday, 6 June 2011

Bắc Kinh: khi nhà ở là hầm trú ẩn


Cập nhật: 15:01 GMT - chủ nhật, 5 tháng 6, 2011

Bắc Kinh: khi nhà ở là hầm trú ẩn

Hàng triệu người đã đổ vào thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc từ nông thôn, nhưng với túi tiền ít ỏi không đủ chi trả, một số cuối cùng đã phải tìm cách sống bên dưới lòng đất, như trong các hầm trú ẩn máy bay cũ kỹ, các tầng hầm và đường hầm.

Tại Bắc Kinh, một thành phố to lớn với gần 20 triệu dân, việc tìm kiếm chỗ ở cũng không phải là dễ dàng gì.

Chúng tôi đến một khu căn hộ 20 tầng ở ngoại ô thị trấn, nơi các tuyến tàu điện ngầm dừng bến và các nhà máy điện bề thế bao quát tầm nhìn.

Thế nhưng thay vì đi thang máy lên các căn hộ, chúng tôi bước vào lối đi lắt léo, rồi bước xuống một lối cầu thang tối tăm. Tiếng vọng của bước chân của chính chúng tôi vẳng lại rõ mồn một.

Rồi ở phía trước là một cánh cửa thép dày với hai chiếc bu-lông bắt trên đó. Đây là đầu mối duy nhất cho thấy nơi này là một hầm trú ẩn phòng không cũ. Đây cũng là nơi mà hàng chục người gọi là nhà.

Nhà của họ là một căn phòng nhỏ. Có một giường đơn, mà cả hai ngủ chung, và không gian đủ cho một tủ cực nhỏ có ngăn kéo. Họ dùng chung ba nhà vệ sinh với khoảng 100 người khác sống tại nơi tạm trú.

Martin Patience

Đi bộ dọc theo hành lang tối tăm và tồi tàn, bạn có thể nghe thấy những âm thanh bị bóp nghẹt của cuộc sống.

Chúng tôi đã được sắp xếp để gặp hai phụ nữ trẻ sống tại nơi tạm trú này. Một người là là Li Na Jong, một người cứng cỏi so với tuổi 18 và đang cố gắng tồn tại ở một thành phố khổng lồ.

Li Na đã tìm được việc làm tại một nhà hàng, làm phục vụ bàn, nhưng rồi đã từ bỏ công việc đó và bây giờ đang cố gắng tìm một việc gì khác tốt hơn.

Một đồng nghiệp cũ, Peng Jing, là bạn chung phòng với Li Na. Peng tới từ miền nam Trung Quốc, cô có một giọng nói khàn khàn, vọng quanh các bức tường.

"Nhà" của họ là một căn phòng nhỏ. Có một giường đơn, mà cả hai ngủ chung, và không gian đủ cho một tủ cực nhỏ có ngăn kéo.

Họ dùng chung ba nhà vệ sinh với khoảng 100 người khác sống tại nơi tạm trú.

Tại nơi sinh sống với môi trường bao quanh ẩm ướt này, hai người phụ nữ trả một khoản tiền trị giá khoảng 30 bảng một tháng.

Nếu bạn muốn thuê một chiếc TV, có thể bỏ ra thêm £5. Để có thể thu tín hiệu của truyền hình, sẽ cần mất thêm £1,50 mỗi tháng.

Chẳng ngạc nhiên gì, Li Na cho biết, nơi ở này đang ảnh hưởng tới sức khỏe của cô.

Ít nhất hai lần một ngày, cô rời khỏi căn phòng của mình và đi ra ngoài. Cô thường hít thở bầu không khí và quan sát thành phố. Cuộc sống bình thường ở trên mặt đất.

'Sống như chuột'

Có một chỉ thị năm ngoái rằng những người sống ở các hầm trú ẩn phòng không của thành phố phải di chuyển ra khỏi đó. Nhưng giống như nhiều quyết định trước đó, đã có ít người tuân thủ và thực hiện nó.

Không ai biết chắc có bao nhiêu người đang sống ở các hầm trú ẩn phòng không, các đường hầm và tầng hầm của Bắc Kinh. Họ đôi khi được người ta gọi là "bộ tộc chuột", và những cư dân 'sống như chuột' này có thể lên tới con số một triệu.

Hầu hết số này là dân nhập cư, tràn vào các thành phố của Trung Quốc trong thập kỷ qua, trong một làn sóng đô thị hóa lớn nhất trong lịch sử loài người.

Bị loại ra khỏi các thị trường bất động sản, những người nhập cư sống ngoài vỉa hè của một thành phố đang thay đổi nhanh chóng.

Bắc Kinh chứng kiến tổng dân số tăng hơn sáu triệu người trong thập kỷ qua.

Có lẽ ít cần phải đặt câu hỏi xem liệu nhà chức trách đã xoay xở với một số khó khăn ra sao.

Có một chỉ thị năm ngoái quy định rằng những người sống ở các hầm trú ẩn phòng không của thành phố phải di chuyển ra khỏi đó. Nhưng giống như nhiều quyết định trước đó ở đây, đã có ít người tuân thủ và thực hiện nó.

Chính quyền Trung Quốc nhằm mục tiêu xây dựng 10 triệu đơn vị nhà ở mới với giá phải chăng trên toàn quốc cho năm nay. Trong năm năm tiếp theo, họ hy vọng sẽ tiến hành xây dựng tổng số là 35 triệu nhà ở.

Các con số, như vẫn thấy ở Trung Quốc, thật đáng kinh ngạc.

Những căn hộ chung cư mới sẽ được nhằm vào phục vụ đối tượng là các gia đình nghèo, tầng lớp trung lưu, để họ thuê hoặc mua.

Đó là ý tưởng. Tuy nhiên thành tích thu được không phải là đặc biệt tốt trong quá khứ.

Trước đây, nhiều trong số những ngôi nhà này đã được các quan chức chính phủ hoặc các nhà phát triển bất động sản nắm lấy, rồi sau đó bán đi và thu lợi nhuận rất lớn.

'Ước mơ một ngày'

Tôi nhìn thấy hàng trăm ngôi nhà và cửa sổ và tất nhiên tôi ước mơ rằng một ngày kia, tôi sẽ mua được căn hộ riêng của mình

Li Na

Quay lại căn hầm trú ẩn dưới lòng đất, Li Na và người bạn của cô đang chuẩn bị đi dạo buổi tối.

Li Na say sưa trang điểm - đánh má hồng xong, cô gấp chiếc gương soi lại và đặt nó xuống chỗ có nếp gấp của chiếc nệm giường.

Cứ vài phút qua, cô lặp lại việc đó.

Họ đã không dự kiến làm một điều gì đặc biệt khi đi dạo, bởi vì họ không có nhiều tiền.

Họ có thể sẽ ăn đồ ăn nhẹ và sau đó đi lang thang trên đường phố đến một công viên ở địa phương, nơi mà người già thường tụ tập để khiêu vũ vào buổi tối.

Vì sống dưới hầm ngầm, tất nhiên, bạn không có khái niệm gì về thời tiết bên trên mặt đất.

Tôi không nỡ lòng nào nói cho họ biết là trời đang mưa (một dịp rất hiếm đối với Bắc Kinh) và do đó sẽ không có bất kỳ hoạt động khiêu vũ nào ngoài trời.

Nhưng thậm chí ngay sau đó, tôi nghi ngờ rằng điều đó có thể làm nản lòng họ.

Mặc dù khởi nghiệp từ "tầng đáy sâu", Li Na quyết tâm làm được điều tốt nhất cho cuộc đời của mình.

"Khi tôi ngước nhìn những tòa nhà cao tầng, tôi trông thấy những ánh đèn neon," cô nói với tôi.

"Tôi nhìn thấy hàng trăm ngôi nhà và cửa sổ và tất nhiên tôi ước mơ rằng một ngày kia, tôi sẽ mua được căn hộ riêng của mình."

source

BBC Vietnamese

Wednesday, 1 June 2011

Cái thú ngồi quán cà phê


Cái thú ngồi quán cà phê
Cập nhật lúc 8:26:03 PM - 31/05/2011
LAIRAICHUYENDOI_SFW.jpgHoài Mỹ/Viễn Đông
Làm đàn ông mà không biết đến cái thú ngồi quán cà phê, kể như chưa phải là nam giới. Ngày xửa ngày xưa, vì cà phê chưa du nhập Việt Nam nên cổ nhân ta mới chỉ liệt kê được “tứ khoái”, chứ nay thì phải kể thêm cà phê: Ngũ khoái.
Tú Xương, nhà thơ nổi tiếng ăn chơi và chịu chơi (nhưng không bao giờ chịu “chơi chịu”), đã công nhận 3 lạc thú ở đời: “Một trà, một rượu, một đàn bà”. Thuở đó, người Pháp đã đặt chân lên lãnh thổ Việt Nam rồi, nhưng chắc cà phê chưa kịp được phổ biến nên thi sĩ Tú Xương chưa được thưởng thức “của lạ” này, chứ một khi ông đã nếm mùi, rất có thể hoặc ông đã cho trà ra rìa mà rước cà phê vào thay thế, hoặc ông công kênh cả cà phê vào cho đủ bộ: “Bốn thứ lăng nhăng nó hại ta”. Hơn thế nữa, nhà thơ làng Vị Xuyên vẫn từng vỗ ngực khoe: “Biết ngồi Thống Bảo, biết đi ả đầu - Biết thuốc lá, biết chè Tầu - Cao lâu biết vị, hồng lâu biết mùi” mà nếu, đặt thí dụ thời ông đã có quán cà phê, ông không biết ngồi quán cà phê thì, xin lỗi, kẻ hèn này vẫn… chê ông như thường dù từ thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường đã mê thơ của ông còn hơn mê cả “rượu và đàn bà” - hay nói đúng hơn, phận hậu sinh này vẫn tiếc hùi hụi cho ông, bởi ông “chết xuống âm phủ, biết có hay không”.
Vâng, khó mà diễn tả hết được, trọn vẹn được cái thú ngồi quán cà phê. Phải đích thân sống thực với “sự cố” này mới mong cảm nhận được đầy đủ. Bài viết này sức mấy mà dám vênh mặt tự nhận là chứa đựng mọi khía cạnh. “Không dám đâu”! Đã có nhiều tác giả, thi sĩ có, văn sĩ có, viết về cái việc “sống ở trên đời, hưởng thú cà phê”, rất hay, đọc khoái lắm, “phê” lắm, nhưng vẫn thiếu… làm sao í. Khó nói! Sự “thiếu” này hoàn toàn không phải do người viết kém tài, nhưng thật sự bởi đó là thứ kinh nghiệm cá nhân. Nói cách khác, mỗi người mê ngồi quán cà phê có thể cảm nhận cái thú một cách khác nhau, hoặc cũng có thể cảm nhận giống nhau nhưng diễn tả lại không y như nhau.
Trước “Tháng Tư ...” 1975, kẻ hèn này tuy đã chập chững bước vào lứa tuổi trung niên, nhưng vẫn không xuống thang mức độ ngồi quán cà phê. Ngồi hàng ngày. Một ngày tối thiểu cũng hai cữ, sáng sớm và xế trưa. Tính ra từ thuở bắt đầu biết ngồi quán cà phê cho tới nay - kể cả ở trong nước lẫn ở hải ngoại - số thâm niên ngồi quán cũng dư điều kiện để được ghi vào bản “cáo phó” là “hưởng thọ” chứ không đến nỗi chỉ “hưởng dương”. 60 năm hay 21.900 ngày; mỗi ngày trung bình 2 lần uống, vị chi 43.800 tách cà phê. Không kể những lần “cơm nhà, cà phê vợ”. Hãy tưởng tượng, 43.800 tách cà phê tức là 43.800 lần “sướng”. Đời như vậy còn đòi gì nữa, phải vậy không ạ? Bởi thế, kẻ hèn này đã tự coi như thể mình đã “phiêu diêu miền cực lạc” rồi, chẳng còn phải chờ đợi hay ao ước gì nữa.
Nhớ lại thuở còn là học sinh trung học rồi sinh viên, kẻ hèn này rất hiếm khi có tiền trong túi - nhưng ngày nào cũng vòi mẹ cho bằng được mấy chục, lại khều thằng bạn thân (nó còn “rách” thảm thương hơn mình) ra ngồi quán cà phê vệ đường, rất nhiều khi “làm học trò không sách cầm tay - có tâm sự đi nói cùng… chất đắng”. Người ta vẫn gọi các quán cà phê ở vỉa hè là cà phê “bí tất” hay “cà phế dzớ”. Nghèo thật, nhưng không có nghĩa là cà phê dở, nhiều quán đã từng giữ chân biết bao dân ghiền, gây mê cho biết bao khách thập phương. Những quán cà phê ở đường Duy Tân chẳng hạn, dưới các gốc me bốn mùa xanh um bóng lá, có bao giờ vắng người sành điệu đâu. Chỉ một cái bàn thấp tè với mấy chiếc ghế lùn tịt. Gọi là “bàn” và “ghế” cho oai thôi, thật sự chỉ là cái thùng gỗ vốn cũ kỹ đến độ không ai còn biết nó mầu gì. Khách quen thì chẳng cần gọi, cứ “vô tư” tự kiếm chỗ mà ngồi. Bà hay cô chủ quán đã nhẵn mặt, tự động mang cà phê đến mời. Chủ, khách quen nhau đến độ coi nhau như người nhà, đã có “cuốn sổ” làm trung gian. Một ly cà phê với hai điếu thuốc lá, kể như cuộc đời đã lên hương. Thiên đàng là đây rồi vậy.
Trong khi đó, các văn nhân thi sĩ vẫn thường ngồi uống cà phê trong các quán sang trọng có máy lạnh, như La Pagode, Givral… ở đường Lê Lợi, Tự Do. Thỉnh thoảng đi ngang, thấy các “ngài”, kẻ hèn này cũng ao ước được ngồi ung dung trên ghế có nệm da với ly cà phê đặt trên chiếc bàn mặt kính. Nhưng khi tiền rủng rỉnh rồi, bèn thực hiện “giấc mơ”, mới chợt nhận ra “sự thật phũ phàng”. Quang cảnh tráng lệ không làm cho cà phê ngon hơn, nhất là chưa kịp cạn tách cà phê thì bồi bàn trong bộ đồng phục quần đen, áo mầu “bọc-đô” đã nhanh nhẹn… vồ lấy mang đi. Thôi đành trở lại chốn cũ: Cà phê vỉa hè muôn năm!
Thế nhưng, loại quán tự xưng “cà phê xa lộ” trước 75 kể như “lọt sổ”, chẳng khác gì hình thức “cà phê ôm” hiện nay ở Việt Nam. Đố ai có can đảm để gọi những “khách” vào các quán này là người biết uống, biết thưởng thức cà phê.
Uống cà phê cũng gần như uống rượu. Mà uống rượu theo thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, “rượu ngon phải có bạn hiền”. Nhưng theo nhà thơ núi Tản, sông Đà này, một khi đã có hai thứ đó rồi mà chỗ ngồi uống rượu không thú vị, vẫn chưa ngon. Trường hợp hội đủ 3 tiêu chuẩn vừa kể mà mồi dở thì cũng “công lao công cốc”. Uống cà phê, theo ngu ý, chỉ cần có bạn hiền, cà phê ngon và chỗ ngồi. Kẻ hèn này chúa “ghét” những ai vừa uống cà phê lại vừa nhai kèm bánh ngọt hay bánh mì.
- Chọn “bạn cà phê” tương đối khó hơn so với “bạn rượu”. Dĩ nhiên cả “hai bạn” phải tâm đầu ý hiệp với mình, nhưng “bạn cà phê” không thể là thứ ồn ào, chuyên nghiệp “đao to búa lớn”. Trong khi “bạn rượu” càng cười to nói lớn, càng vui, nhưng “bạn cà phê” trái lại, chỉ cần nhiều “bầu” tâm sự buồn để thủ thỉ. Yếm thế, thất tình, say văn thơ… đều là những “chất liệu” quí báu và thích hợp với những tách cà phê đen, thơm ngào ngạt, tỏa khói.
“Bạn cà phê” tuyệt đại đa số là nam. Quá hiếm trường hợp một đấng nam nhi dắt bồ mình vào quán cà phê, trừ khi quán này còn bán cả chè thạch, sinh tố. Nếu xẩy ra, hoặc gã này thuộc loại lẩm cẩm, hoặc không thuộc loại biết uống cà phê (chưa xứng đáng được mang danh hiệu “ghiền”), hoặc nghèo. Có khi gồm cả 3 “đặc điểm” ấy.
- Cà phê ngon: Lẽ ra đây phải là điều kiện tiên khởi, nhưng mục này rất phức tạp để bàn thảo. Đối với kẻ hèn này, một tách cà phê ngon đương nhiên phải thơm, nguyên chất, phải đậm đà và thật nóng. Cà phê ngon mà tuôn đầy sữa vào - hỏng! Cà phê ngon mà đổ cả đống đường vào - hỏng! Cà phê ngon mà phải “sống chung” với đá cục hay đá dậm - cũng hỏng! Kẻ hèn này mà đồng hành với “bạn cà phê” nào mà chưa kịp đặt bàn tọa xuống mặt ghế đã vội gọi như vỡ chợ: “Cho ly cà phê đá” - hay: “Một ly cà phê nóng, nhưng nhiều sữa, nhé” - hoặc anh dũng kêu một ly cà phê “phối hợp nghệ thuật”, tưởng gì, hóa ra “cà phê sữa đá”, thì lần sau có cho vàng, cũng không đi cùng.
- Chỗ ngồi, tức là quán cà phê. Quá ư quan trọng! Vào một nhà hàng, sau khi thanh toán một tô phở “xe lửa” hay tô mì “king size”, tô hủ tiếu “vĩ đại” rồi kết thúc “chiến trường” bằng một ly cà phê thì kể như “hỏng cuộc đời”. Dù cà phê ngon mà chỗ uống không thích hợp, vẫn hiển nhiên không ngon. Theo ngu ý của kẻ hèn này, quán càng “thuần túy”, cà phê càng dễ tuyệt vời. Loại quán chỉ bán duy nhất cà phê mà thôi, ở xứ Cờ Hoa xô bồ này dường như hiếm có vô cùng, thiết tưởng chỉ có nhiều ở Paris, trên bờ sông Seine hay khu St. Germain-des-Prés, hoặc ở Rome, thủ đô nước Ý. Tại những thành phố này, tuy vừa đứng vừa thưởng thức cà phê, nhưng đa số là những quán “cóc” chính hiệu và nhất là khách uống toàn là những tay ghiền cà phê “có bằng cấp” nên… đã lắm!
Quán cà phê lý tưởng không thể ồn ào, không thể có thứ ánh sáng lúc nào cũng giống những buổi trưa hè “trời hồng hồng, nắng trong trong”, thêm vào đó, nhạc mở đinh tai nhức óc. “Bạn cà phê” muốn tâm sự với nhau, cứ phải nhổm người lên, dí mặt sát nhau rồi thi đua cùng hét. Cảnh tượng giống hai thằng điếc đang… nói chuyện.
Dân uống cà phê “thứ thiệt” thích vào một cái quán có ánh đèn dìu nhẹ, nhạc thính phòng êm dịu, không khí gây cảm tưởng ấm áp. Nếu quán lại có một cô chủ duyên dáng và dịu dàng nữa thì, thú thật, có lấy chổi chà quét khách đi, khách ghiền vẫn lại… lù lù tới.
Nhân nói về quán, kẻ hèn này mạn phép giới thiệu không công với quí độc giả một vài quán cà phê ở Âu Châu mà trước đây các danh nhân đã từng ngồi mỗi sáng. Cà phê ở các quán này ngon hết ý, nhưng chiếm được đúng cái chỗ - có ghi tên danh nhân đàng hoàng - mà họ đã ngồi, tưởng phải đến thật sớm hoặc phải tranh giành, mệt nghỉ, nhưng được hưởng chút “hương thừa” lịch sử, vẫn đáng công: Thứ nhất, triết gia Jean Paul Sartre ngày nào mà chẳng nhâm nhi cà phê ở quán Café Fore hay quán bên cạnh Les Deux Margots, tại khu Saint Germain-des-Prés, quận 6 Paris. Thứ hai, kịch tác gia trứ danh Henrik Ibsen, tác giả của A Doll’s House, Peer Gynt, An Enemy of the Pepole… đã ngồi mòn ghế ở quán Kaffe Oslo, đường Drammensveien, Oslo, thủ đô Na Uy…
Xin trở lại vấn đề, dân ghiền cà phê thứ thiệt thường lại không mê các quán “cà phê mát mẻ”. Lý do: Cà phê và da thịt không đi chung với nhau. Cà phê vốn không thích hợp với cảnh “đồi núi và suối rừng”. Đối với Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa thì miễn bàn, bởi ở đây chế độ “đa ôm” đang phát triển. Riêng ở California, được biết là một hội đồng thành phố đã ra lệnh cho các nữ chiêu đãi viên trong các quán cà phê Việt Nam là không được ăn mặc thiếu vải dù muốn phô diễn tinh thần khó khăn của giới “khổ tu”. Xin chia buồn với những “bạn cà phê” vốn giầu lòng từ bi, bác ái muốn tìm đến “giới nghèo” để vừa an ủi lẫn giúp đỡ vật chất. Riêng các bà vợ thì ngược lại, hoan hô hết mình quyết định của chính quyền, nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra thông cảm với ông xã, nhỏ nhẹ khuyên chồng cứ hồ hởi ở nhà mà tha hồ uống “cà phê vợ”. Hơn nữa, các bà còn nhắc lại lời khuyên bảo của cổ nhân: “Ta về ta núc sữa ta - tuy rằng quá ‘đát’, sữa nhà vẫn hơn!”.
Cà phê ngon còn đòi hỏi nhiều thứ nữa, tuy nhiên trong một bài báo giới hạn, kẻ hèn này mạn phép không thể lai rai bàn hết các chi tiết, nhưng các điều kiện cần thiết như sau thì không thể thiếu: Cẩn thận chọn loại cà phê, đừng hà tiện mua thứ rẻ tiền. Cà phê phải mới xay. Giới ghiền ngồi quán cà phê dĩ nhiên đành giao phó hai việc vừa kể cho chủ quán. Nếu quán vẫn đông khách và khách cũ vẫn quay trở lại để rồi đóng đô luôn ở đây, ắt hai điều ấy đã được chủ quan hiểu biết và áp dụng nghiêm chỉnh. Kể như trúng số, tuy chưa phải lô độc đắc hay Mega, nhưng tràn đầy hy vọng, nếu chủ quán cung ứng thêm các điều kiện về cách pha, đun nước - chẳng hạn, không nên nén chặt cà phê vào “phin”, nhưng nên nhỏ ít giọt vào cho cà phê nở trước khi chế nước nóng khoảng một phút - tuy vậy, nhớ đừng dùng nước sôi kẻo “giết chết” cà phê. Nước nóng già chút thôi, nhé! Việc vừa kể, khách cũng đành phó thác vào bàn tay điệu nghệ của chủ quán. Nhưng các khoản sau đây thì khách có thể yêu cầu chủ quán thỏa mãn: Tách uống cà phê phải là tách bằng sành, đã được “sưởi” trước trong lò. Cà phê nóng mà tách lạnh kể như hai tình trạng “chửi cha nhau”.
Không biết quí độc giả ghiền cà phê nghĩ sao chứ, riêng kẻ hèn này đã thề chẳng thà… chết, chứ cương quyết không uống cà phê trong các ly bằng giấy hay bằng nhựa to tổ bố, “ghê” hơn nữa, cà phê đựng trong chai. Tục quá! Kiểu vai u thịt bắp, võ biền, trong khi cà phê thuộc “giai cấp” thanh tao, quí phái. Quả đúng, đã không chơi thì thôi, mà đã chơi thì phải làm sao theo kịp được lời khuyên của cụ Nguyễn Công Trứ: “Chơi cho lệch đất, nghiêng trời” - nghĩa là chơi cho đúng điệu vậy. – (HM)
source
Vien Dong Daily

Sunday, 22 May 2011

Những phụ nữ ngụp lặn dưới Hồ Tây



- Dưới trời nắng như đổ lửa của những ngày đầu tháng 5, hai người phụ nữ trùm áo mưa vẫn mê mải đầm mình dưới hồ Tây (Hà Nội). Mỗi người kéo theo sau lưng một chiếc thùng xốp, vắt lộn xộn tấm bao tải lẫn chưa quá nửa miệng bao ốc, trai. Đó là sản phẩm sau cả 5 tiếng đồng hồ mướt mải đội nắng, ngâm nước ngày hôm nay.

Lặn lội thân cò

Tôi cứ ngỡ mình nhìn nhầm, khi thấy hai người phụ nữ bé nhỏ đang lụi cụi mò cua bắt ốc ngay dưới hồ Tây sóng nước bải hoải. Thế nhưng, phút dừng chân hỏi cho thỏa nỗi tò mò lại giúp tôi khám phá cả một cuộc mưu sinh lạ lùng mà đầy truân truyên của họ.

Thấy có người hỏi chuyện, họ vui vẻ tiếp lời, nhưng cũng không lúc nào dừng tay, dừng chân. Theo lời chị Nguyễn Thị Gái- năm nay đã ngoài 50 tuổi, quê Thái Bình, thì công việc này chẳng qua là lựa chọn bất đắc dĩ với những người dân tỉnh lẻ vừa thiếu vốn, vừa lạ nước, lạ cái lúc mới đặt chân lên đất Hà Nội này như chị.

“Tôi mới lên đây có ba tháng, ngày ngày ra dốc bưởi đứng chờ việc, ai người ta thuê gì thì làm nấy. Những ngày vắng khách như hôm nay, thấy vài chị em rủ nhau đi mò ốc, tôi tò mò đi theo. Ai ngờ lại thành cái “nghề phụ” thế này” - chị Gái vẫn hóm hỉnh nói.

Mò cua bắt ốc tưởng chỉ có ở các làng quê. Vậy mà ngay bên cạnh Hồ Tây tráng lễ, mộng mơ này, cái nghề ấy cũng có đất cho những người xa quê bấu víu.

Theo lời chị Gái, một ngày làm việc của chị nếu chỉ mò cua, ốc ở Hồ Tây thường bắt đầu sớm, tầm 5h sáng- sớm hơn nếu đi làm cửu vạn. Nghề này, hầu như chỉ có các chị em làm.
“Lặn ngụp từ tinh mơ mờ đất, giờ ấy người ta qua lại còn vắng, không bị nhắc nhở. Hơn nữa, bắt đầu sớm thì được nhiều, muộn thì được chẳng bao nhiêu“ - chị Gái giải thích.

Tất cả những gì các chị mang theo chỉ là chiếc áo mưa mỏng teng khoác ngoài, cái thùng xốp, cái bao tải dứa và chiếc nón đã cũ mèm. Không ủng tay, không ủng chân, chẳng có gì để bảo vệ. Các chị cứ tay không mà sục xuống bùn đất, mà trầm mình xuống nước sâu.

Chị Nguyễn Thị Gái vẫn vô tư cười khi chia sẻ về công việc của mình (Ảnh: Quỳnh Anh)

“Có gì mà bảo hộ, chân lấm tay bùn quanh năm, sợ gì!” - chị Gái vô tư nói.

Quệt ngang vệt bùn bám một bên má, chị đưa lên mộ vốc toàn ốc nhỏ. Cứ kiên trì di chuyển từng chút ven hồ, kiên trì dùng tay, chân, mò mẫm, rất nhiều những vốc ốc nhỏ ấy sẽ đong đầy phần nào cái thùng xốp sau lưng chị, đổi lấy tiền, lấy gạo, đỡ đần cuộc sống khó khăn nơi đô thành.

“Bây giờ làm ăn khó lắm. Tôi nghe các chị làm lâu năm bảo, ngày trước, một buổi sáng thu được cả mấy yến ốc con, ốc to là chuyện thường. Thế mà bây giờ, có cày cục từ sáng sớm đến trưa cũng chỉ được vài chục cân. Tính ra, thu được đến 100 nghìn đồng một ngày là cao” - chị Bình, người phụ nữ đi cùng chị Gái bây giờ mới lên tiếng.

Tính ra, hơn sáu tiếng đồng hồ, mỗi người lao động cật lực mới được khoảng 100 nghìn đồng. Mà nào phải có ốc, có trai trong thùng là đổi ngay lấy tiền được. Không có sẵn mối thu mua, nhiều lần các chị còn phải mướt mồ hôi đi bán hàng ở mấy khu chợ cóc. Không cẩn thận, ế ẩm hay bị công an, bảo vệ “dẹp” thì coi như tất cả thành công cốc.

Hành trình quy đổi sản phẩm mò cua bắt ốc của các chị lấy những đồng bạc sao còn lắm gian truân đến thế…

Vun vén những ước mơ

Không phải vô cớ mà những người phụ nữ như chị Gái, chị Bình lại phải bươn bả ra thành phố kiếm sống. Cũng không phải vô cớ họ lại tìm đến với cái nghề lạ lùng ở đất thủ đô này.

“Làm nghề này là phải chấp nhận rồi. Bấp bênh, khốn khó, lại bị xua đuổi. Có ai cho chúng tôi mò cua bắt ốc ở đây đâu! Có hôm mới bảy, tám giờ họ đã cho thuyền ra “xua” rồi, cực lắm” - chị Bình than thở. Rồi chị đưa lên ngang mặt vốc tay toàn cát sỏi, vương rác rưởi. Gương mặt như sầm đi vì thất vọng, chị lại lầm lũi sục cả người xuống dưới mặt nước.

Vun vén cho những ước mơ từ con trai, con ốc - (Ảnh: Quỳnh Anh)

Sau một hồi trò chuyện, các chị tiết lộ, tuy mò cua mò ốc ở hồ Tây này “bạc” nhưng cũng không đến nỗi. Với những người nông dân quen chân lấm tay bùn, quen dầm sương dãi nắng với con cua, con ốc như các chị thì tất cả vẫn còn nhàn nhã chán.

Nhàn nhã so với việc bươn bả chợ búa, vừa tốn tiền vốn lại phải vật lộn, bốp chát ngoài chợ. Các chị em ngoại tỉnh đổ về Hà Nội kiếm sống mạn Hồ Tây sống thành xóm trọ. Những người “làm thêm” như các chị cũng không ít, thành cả một “khu cua ốc” ở khu vực này.

“Ở quê bây giờ đang lúc nhàn rỗi. Nhàn rỗi thì không có tiền, mà con cái, học hành, ăn ở, tháng nào cũng phải đôi triệu. Ngày trước giá cả còn đỡ, bây giờ cái gì cũng tăng vù vù. Chúng tôi không ra Hà Nội làm thuê thì khéo chết đói cả. Nhưng làm gì thì làm, cũng bữa đực bữa cái. Cái khó ló cái khôn, rủ nhau ra đây mò cua bắt ốc cũng là bất đắc dĩ thôi” - chị Gái ngượng ngùng bảo.

“Chỉ mong đừng sơ sẩy đạp phải mảnh chai, mảnh sảnh, đinh nhọn gì thôi. Chứ lỡ mà bị nhiễm trùng, ngã ra đây ốm thì tiền thuốc chẳng đủ tiền thang” - chị chia sẻ thêm.

Chơi vơi thân cò lặn lội

Những tai nạn như chị nói quả thực không hiếm trong cái nghề mò cua bắt ốc này. Chị bảo, mọi người trong xóm chị kể, một chị đi mò ốc ở Hồ Tây này, vô ý dẫm phải mảnh sành, lại lấn cấn không đi khám xét, cuối cùng bị nhiễm trùng, phải đi bệnh viện rồi về quê, không biết cái chân cuối cùng ra làm sao, mà chẳng còn thấy quay về xóm nữa.

Cũng có người mải làm, trời nắng quá, ngã sức, tí nữa thì đuối nước. May mà có các chị em đi cùng không thì nguy khốn. Làm bạn với sông nước, với con cua, con ốc, không phải các chị không lường được những nguy hiểm rình rập ấy. Song tất cả vẫn phải lùi chỗ cho nỗi lo cơm áo gạo tiền.

Ở cái tuổi ngoài năm mươi, nhưng chị nào đã được nghỉ ngơi. Gánh nặng đồng áng tạm vơi vì chưa vào mùa vụ, chị đã lại xăm xắn lên Hà Nội để mong kiếm thêm thu nhập, chu cấp cho hai con đang ăn học đại học.

Tâm sự về hành trình bám đất Hà Nội nuôi con ăn học của mình, chị Gái nhẹ nhàng bảo: “Xóm trọ của tôi có ba, bốn chị em cũng có con học đại học ở Hà Nội. Nhưng chẳng giấu gì, đi làm thế này, chẳng bố mẹ nào bảo cho con cái biết đâu. Sợ nói ra, các con lại suy nghĩ, bận tâm. Cứ tháng tháng lại chắt chiu, vun vén tiền rồi nhờ người quen gửi cho chúng nó. Chúng nó học hành tấn tới, thì làm nghề gì có bố mẹ nào quản!”.

Người mẹ ấy chia sẻ bằng chất giọng tâm tình pha niềm tự hào. Bên dưới cái nắng choi chang, cái nóng hầm hập của mùa hè Hà Nội, đôi mắt của người mẹ ấy vẫn lấp lánh những niềm vui, niềm hi vọng dành cho các con mình.

Quỳnh Anh
source
http://www.vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/21111/nhung-phu-nu-ngup-lan-duoi-ho-tay.html

Friday, 20 May 2011

Đại gia chi trăm tỷ xây mộ, dựng nhà thờ cha



Friday, 20 May 2011 09:14

Cali Today News – Trong bài phóng sự “Nghĩa Địa xa Hoa Nhất Việt Nam” từ báo trong nước, chúng ta thấy Việt kiều đổ tiền về làng An Bằng, Huế, để xây dựng nơi đây từ ngôi làng ven biển nghèo đói, trở thành “thành phố nghĩa địa xa hoa nhất Việt Nam”. Nhiều độc giả tò mò muốn có dịp đến khu này để xem thành phố lộng lẫy nhất của người chết. Kỳ này, chúng tôi gửi đến qúy độc giả một phóng sự khác của giới đại gia, cán bộ từ trong nước đã tung ra hàng trăm tỷ để xây mộ cho cha mẹ… Mộ to và quy mô như lăng tẩm của vua chúa… (bài viết được cắt ngắn nhiều đoạn so với nguyên tác, chỉ giữ phần chính mà thôi)

Hàng cau rợp bóng vây quanh khu nhà thờ.

Ngôi nhà do nhóm thợ Sơn Tây làm được dỡ bỏ, thay vào đó là đội thợ giỏi nhất của Nam Định. Thợ mộc thì xẻ gỗ, đục đẽo ngày đêm như xưởng mộc khổng lồ, thợ đá đến từ Ninh Bình thì đẽo gọt, mài dũa đá xanh, đá trắng để lát nền…

Người bỏ cả chục năm công sức, cùng với số tiền cả trăm tỷ đồng để kỳ công dựng nhà thờ người cha tại quê nhà là anh Nguyễn Đức Lượng, Chủ tịch HĐQT, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển nhà Trường Linh (trụ sở tại Hà Nội).

Cổng vào nhà thờ.

…Ông mất đi, để lại người vợ trẻ, và cậu con trai mới 18 tháng tuổi.

Dù đi bước nữa, nhưng bà Sáu vẫn nuôi Lượng ăn học tới nơi tới chốn. Tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân, anh Lượng làm việc cho một cơ quan Nhà nước. Làm được vài năm, anh tự lập doanh nghiệp, làm ăn như diều gặp gió.

Anh Lượng nhận cúp doanh nhân văn hóa.

Khi đã giàu có, anh nghĩ đến người cha của mình. Về lại mảnh đất mà cha mẹ mình từng ở, sinh ra anh, anh nảy sinh ngay ý định làm một ngôi nhà thờ để tưởng nhớ đến cha. Ngôi nhà thờ đó phải độc đáo, ý nghĩa, mang đậm văn hóa Việt và trường tồn với thời gian.

Có ý tưởng rồi, anh mời rất nhiều nhà phong thủy, địa lý về xem thế đất. Thế đất thì đẹp, nhưng diện tích lại quá nhỏ, có 10 thước, tức 240 mét vuông, chỉ đủ xây cái nhà thờ nhỏ, không làm được cảnh quan nào khác nữa. Các thầy địa lý đều khuyên anh kiếm mảnh đất khác rộng rãi. Tuy nhiên, anh chỉ muốn dựng nhà thờ trên nền nhà cũ, trên chính mảnh đất mà người cha anh đã ra đi và mãi mãi không trở về.

Các kiến trúc sư khó tính cũng không thể chê được điểm gì.

Để thực hiện ý nguyện của mình, anh đã cực kỳ nhẫn nại, thuyết phục làng xóm nhượng lại đất xung quanh cho anh.

Từ mảnh đất 240 m2, anh mua hết phía trước, mua rộng ra xung quanh và mua xuyên lên tận sườn dãy núi Chí Linh. Mảnh đất anh gom được rộng tới 5000 m2, nằm trên một thế đất vàng theo phong thủy. Trước mặt là vòng tay ôm của con sông Kinh Thầy, sau lưng là dãy Chí Linh án ngữ, đúng là dựa núi nhìn sông.

Khối đá 46 tấn đặt trong vườn để tạo cảnh.


Có mặt bằng rồi, anh Lượng tiến hành san đất. Một công trình kỳ công được anh tạo dựng suốt 10 năm trời, từ năm 1998 đến 2008 mới tạm hoàn thành.

Bà Sáu là người trông nom, quản lý quá trình xây dựng nhà thờ, nên bà thấy hết sự cầu kỳ, vất vả và tâm huyết của con trai.

Riêng cái hồ trước nhà thờ, anh Lượng đã đào bới, xây dựng đến lần thứ 3 mới xong. Lần đầu tiên anh làm hình elip, như quả trứng. Kè đá, xây tường xong, thấy không vừa mắt, anh lại ủi sạch và xây theo hình vuông. Thế nhưng, vài năm sau, thấy hình vuông không ổn, anh lại phá hồ xây thành hình bán nguyệt. Dưới mặt nước trong mát là hệ thống vòi phun nước, quanh hồ là hệ thống chiếu sáng. Chỉ cần bật công tắc, điện sẽ lung linh đủ màu, nước phun tung bọt trắng xóa.

Khu vườn phía sau nhà thờ

Công trình tương đối cầu kỳ là… đắp núi. Phía cuối mảnh đất lại là 2 cái ao lớn. Để biến 2 cái ao đó thành quả đồi thoai thoải, gắn với sườn núi Chí Linh, anh phải đổ cả vạn khối cát. Tiếp đó, hàng ngàn xe tải chở cát, sỏi đổ lên trên, tạo ra độ cao cả chục mét so với nền cũ.

Trên quả đồi đó, những cây đại thụ được trồng, tỏa bóng mát. Những bậc đá uốn lượn, cỏ mọc xanh rờn. Giữa khu đồi nhân tạo, anh Lượng đặt một tảng đá khổng lồ, nặng 46 tấn. Phải 3 chiếc cẩu mới đưa được hòn đá lên.

Sau nhiều lần xây dựng, dỡ bỏ, ngôi nhà thờ mới hoàn thành.

Cầu kỳ nhất là làm ngôi nhà thờ dát vàng. Ngôi nhà tốn kém không biết bao nhiêu công sức, tiền bạc của chủ nhân.

Khi đã gom đủ lượng gỗ lim để dựng nhà, đội thợ mộc nổi tiếng của Sơn Tây, gồm vài chục người, có lúc lên đến cả trăm, ăn dầm ở dề tại nhà anh đục đẽo. Suốt mấy năm trời kỳ công, đội thợ mới dựng lên được một ngôi nhà gỗ hoành tráng.

Thế nhưng, nhà thờ làm xong, gia chủ nhòm ngang ngó dọc, thấy không hài lòng, vì nhà thì to, mà cột kèo, rui mè thì nhỏ, trông không hợp mắt, nên lại dỡ bỏ.

Sau 3 lần làm đi làm lại, ông Lượng mới hài lòng với cái hồ bán nguyệt.

Vì gỗ lim ở Việt Nam rất hiếm, ở Lào cũng không còn, vả lại cũng không có lim lớn, nên anh Lượng phải đặt mua tận Nam Phi. Thợ đẽo gọt các cây lim già, chỉ lấy lõi làm các các cột lớn.

Ngôi nhà do nhóm thợ Sơn Tây làm được dỡ bỏ, thay vào đó là đội thợ giỏi nhất của Nam Định. Thợ mộc thì xẻ gỗ, đục đẽo ngày đêm như xưởng mộc khổng lồ, thợ đá đến từ Ninh Bình thì đẽo gọt, mài dũa đá xanh, đá trắng để lát nền, chạm trổ long, ly, quy, phụng…

Để có được 49 cột gỗ lim lớn, ông Lượng phải mua tổng cộng 98 cây lim già khổng lồ. Tầng hầm 49 cột lim, mỗi cột lại tương ứng với một cột ở tầng trệt.

Những cây cảnh đắt tiền tô điểm cho vẻ cổ kính, sang trọng của nhà thờ.

Công đoạn đánh bóng toàn bộ gỗ lim cũng rất cầu kỳ. Nhóm thợ không đánh bóng bằng giấy ráp, mà xoa bằng lá chuối lùn khô. Cứ xoa đi xoa lại vài chục lần, mất 6 tháng trời, thì gỗ lim lên màu đen bóng, màu rất tự nhiên.

Những viên gạch lát nền, ngói lợp mái cũng toàn đốt bằng rạ suốt 7 ngày đêm, chứ không phải bằng than, bằng gas, nên màu đẹp, bền. Loại gạch này có giá thành đắt gấp nhiều lần gạch thông thường.

Cây tùng trị giá 4,6 tỷ đồng đặt bên hữu nhà thờ.

Theo bà Sáu, anh Lượng thuê nhiều kiến trúc sư và làm theo các bản thiết kế. Tuy nhiên, cứ làm xong, hoặc đang làm giữa chừng, thấy không hợp, lại đập phá, làm lại hết. Công trình hoàn toàn là ý tưởng, là tâm huyết, là sự ám ảnh của anh về cha.

Sau 10 năm, đổ không biết bao nhiêu tâm huyết, tiền bạc, phải công nhận rằng, đây là một công trình đẹp, hài hòa, mang đậm văn hóa Việt. Kể cả các chuyên gia kiến trúc cũng khó tìm thấy khiếm khuyết.

Ngoài công trình nhà thờ rộng 5000 m2, cũng phải nói thêm về khu vườn và khu mộ của Nguyễn Minh Độ.

Cùng với việc xây dựng khu nhà thờ, anh Lượng mua thêm 4 ha đất ruộng lầy thụt để làm vườn, trồng đủ các loại cây. Trong khu vườn đó, anh dành 1 ha đất để dựng khuôn viên mộ cha mình. Anh Lượng không xây mộ cha hoành tráng, mà chỉ xây nho nhỏ. Nhưng xung quanh mộ là những hàng cam, bưởi sai trĩu trịt và cau tỏa bóng mát.

Những hàng cau trong vườn có thể nói là đệ nhất nước Việt. Khoảng 13 ngàn cây, hàng lối đều tăm tắp do các nghệ nhân trồng, tỉa tót, chăm sóc suốt nhiều năm. Hệ thống tưới tiêu trong vườn hoàn toàn tự động. Khu vườn đã đem lại bóng mát và vẻ đẹp bồng lai, chỉ với mục đích để linh hồn cha được an tịnh.

Anh Lượng không coi đây là công trình của riêng mình nữa, mà nó là công trình văn hóa của cả làng. Đêm rằm trăng sáng vằng vặc, các cụ ông quanh xóm tụ họp chơi cờ trong khuôn viên nhà thờ, trong vườn cây, các cụ bà ngồi hát giao duyên, nhai trầu bỏm bẻm, trẻ con nô đùa nơi vườn thượng uyển.

Tìm hiểu kỹ lưỡng, tôi đoán công trình thờ tự cha của anh Lượng không dưới trăm tỷ đồng. Nhưng tôi thấy rằng, đó không phải là sự lãng phí. Với trăm tỷ ấy, chỉ có thể mua được căn biệt thự không có gì đặc biệt ở Hà Nội. Nhưng với khu nhà vườn, nhà thờ tự độc đáo như thế này, thì có lẽ tìm cả nước cũng không ra.

Ngoài công trình trăm tỷ thờ cha mình, anh Lượng đã bắt đầu triển khai một công trình rất lớn cho xóm, đó là xây dựng chùa Mức.

Ngôi chùa này được làm toàn bằng gỗ lim, to gấp 3 lần nhà thờ cha anh. Hiện mặt bằng đã giải phóng, đã đền bù đất cho dân. Xưởng mộc, nhà ở cho công nhân đang được dựng lên. Dự tính, công trình này phải mất 10 năm mới hoàn thành và tốn kém có thể đến cả trăm tỷ đồng. Toàn bộ số tiền làm chùa do anh Lượng công đức và anh cũng là người trực tiếp xắn tay làm ngôi chùa này.

Theo VTC

source
Calitoday