Monday, 25 April 2011

Một cây cầu và một con chim bằng xi măng giống nhau chỗ nào?


Hoa Kỳ Cập nhật Thứ Sáu, 22 tháng 4 2011

Một cây cầu và một con chim bằng xi măng giống nhau chỗ nào?

Nhiều thành phố Mỹ dùng những công trình xây dựng làm biểu tượng cho thành phố; nhưng cũng có những nơi không dùng công trình xây dựng, mà lại dùng những thứ khác.

Tượng của anh thợ rừng Paul Bunyan và con bò xanh trung thành tên “Babe”

Tượng của anh thợ rừng Paul Bunyan và con bò xanh trung thành tên “Babe”


Những công trình xây dựng nổi tiếng đã được sử dụng làm biểu tượng cho nhiều thành phố và thị trấn Mỹ.

Khi nói đến cây cầu Golden Gate người ta nghĩ ngay đến San Francisco, hoặc khi nói đến Tòa nhà chọc trời Empire State người ta nghĩ đến thành phố New York, và khi nói đài tưởng niệm Washington người ta nghĩ ngay đến thủ đô Hoa Kỳ.

Những biểu tượng không chính thức khác của các thành phố và thị trấn chỉ là những biểu tượng nhưng không vì thế không thu hút những công trình vĩ đại.

Nếu bạn có cơ hội đi thăm Fort Stockton, Texas chẳng hạn, bạn sẽ không quên con Roadrunner lớn nhất thế giới. Roadrunner là một con chim thuộc loài chim cu thích chạy trên sa mạc hơn là bay. Con chim ở Texas không bay cũng không chạy vì nó làm bằng xi măng và có chiều dài 7 mét. Thậm chí người ta còn đặt tên cho con chim là “Paisano Pete.” Nhiều cửa hàng tại Fort Stockton bán con chim Paisano Peter thu nhỏ dành cho du khách.

Tại High Point, bang North Carolina, nơi có mấy chục công ty đóng bàn ghế nội thất, có một tòa nhà rất lớn được sơn chung quanh trông giống như một cái tủ khổng lồ có nhiều ngăn.

Và tại Cape Cod, Massachussetts, bạn có thể thấy con cá Cod được khắc hay tạc ở khắp mọi nơi trong thành phố.

Trên vỉa hè Binghamton, New York, bạn sẽ thấy những con ngựa gỗ dùng cho các vòng đu quay rất đẹp được dựng lên để kỷ niệm vòng du quay một thời được dựng nên ở đây.

Bên ngoài thành phố nhỏ Eau Claire, bang Wisconsin và tại một số thị trấn khác của vùng trên cao miền Trung Tây nước Mỹ nơi có rất nhiều rừng, bạn sẽ thấy những pho tượng của một anh hùng vĩ đại theo truyền thuyết dân gian, anh thợ rừng Paul Bunyan và con bò xanh trung thành tên là “Babe”.

Tại thành phố Steubenville, bang Ohio có hình của Dean Martin được vẽ trên những bức tường lớn. Dean Martin, ca sĩ và diễn viên điện ảnh thường đóng cặp với danh hài Jerry Lewis, chào đời tại thành phố nhỏ chủ yếu sản xuất thép này.

Cuối cùng, thị trấn bờ biển Hermosa Beach ở California tạo những tác phẩm nghệ thuật trên nắp cống, người ta đúc chung ánh mặt trời và sóng biển bên cạnh từ “cống”.

Mấy ai có thể đoán trước được một con chim lớn làm bằng xi-măng và những nắp cống có thể thu hút du khách?

source

VOA Vietnamese

Thursday, 14 April 2011

Cơn sốt báo chí tại Mỹ trước hôn lễ của hoàng tử William


HOÀNG GIA ANH QUỐC -
Bài đăng : Thứ tư 13 Tháng Tư 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 13 Tháng Tư 2011
Cơn sốt báo chí tại Mỹ trước hôn lễ của hoàng tử William
Hoàng tử William và cô Kate Middleton nhân một buổi gây quỹ từ thiện tại Anh (Reuters)
Hoàng tử William và cô Kate Middleton nhân một buổi gây quỹ từ thiện tại Anh (Reuters)
Thanh Hà

Tại Anh Quốc, vài tuần lễ trước ngày cưới của hoàng tử William với cô Kate Middleton, báo chí cũng như các kênh truyền hình, đài phát thanh đã dầy đặc các chương trình đặc biệt để tường thuật về sự kiện trọng đại này. Tại Mỹ, các phương tiện truyền thông đang dàn binh bố trận để tường thuật trực tiếp về đám cưới lịch sử.

Đám cưới của hoàng tử William với cô Kate Middleton được coi là có sức thu hút lớn nhất kể từ sau hôn lễ của thái tử Charles với công nương Dinana vào năm 1981. Đúng ba mươi năm trước đây, trước cử tọa 35000 vị khách mời, thái tử Charles đã thề sống đến răng long tóc bạc với Diana Spencer tại thánh đường Saint Paul. Hơn một tỷ người trên hành tinh đã theo dõi thánh lễ và chờ đợt giây phút đôi tân lang và tân giai nhân này lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

Lần này, giới truyền thông dự trù sẽ có đến hai tỷ rưỡi khán giả sẽ cùng muốn được tận mắt chiêm ngưỡng chiếc áo cưới của Kate Middleton qua màn ảnh tivi khi cô bước vào thánh đường Westminster.

Chính vì vậy mà các đài truyền hình lớn của Mỹ đã đặt thuê sẵn những địa điểm tốt nhất bên dòng sông Thames. Từ ngày 22/4 trở đi, tức đúng một tuần trước ngày cưới của hoàng tử William, đài truyền hình NBC cùng với MSNBC gửi một đội ngũ phóng viên hùng hậu đến Luân Đôn để phát đi những chương trình đặc biệt với những hồi chuông của Big Ben làm nền.

Vào đúng ngày hoàng tử William đẹp duyên cùng Kate, NBC và MSNBC dành riêng 20 tiếng đồng hồ chương trình để tường thuật về buổi lễ. Một số các đài truyền hình trên cáp khác sẽ cầm chân khán giả nhờ những phóng sự độc đáo như là tiết lộ những bí mật chung quanh hôn lễ hay mời các chuyên gia về thời trang để bình phẩm về y phục của người có triển vọng trở thành hoàng hậu tương lai của Vương quốc anh sau này. Hoàng tử William là cháu đích tôn của nữ hoàng Elizabeth II và là con trai trưởng của thái tử Charles.

Về phần mình, đài CNN cử khoảng 50 nhà báo, kỹ thuật viên sang Luân Đôn. Trong số này có những nhân vật « nặng ký » của đài và cũng là những gương mặt quen thuộc đối với khán giả Mỹ như phóng viên Anderson Cooper hay người dẫn chương trình Piers Morgan.

Khác với đài NBC, CNN sẽ không đưa khán giả vào hậu trường lễ cưới của William và Kate nhưng sẽ giới thiệu rõ hơn về người vợ sắp cưới của hoàng tử William qua phóng sự mang nhan đề « The Women Who Would Be Queen ». CNN cũng sẽ trở lại với thuở William vừa lọt vào mắt xanh của Kate.

Trong thời đại kỹ thuật số và internet ngày nay, báo chí đua nhau cho ra đời những trang mạng, các diễn đàn để cung cấp thông tin từng giờ, từng phút về đám cưới được chờ đợi nhất trong năm !

source

RFI Vietnamese

Thursday, 10 March 2011

Độc chiêu của các quán cà phê VN ở Los Angeles: Thực đơn rất ít món và nữ tiếp viên rất ít quần áo






Thursday, 17 February 2011 18:57

Cali Today News - Nếu bước vào quán cà phê Lú ở Santa Ana, thực khách sẽ thấy thực đơn rất nghèo nàn và y phục của các nữ tiếp viên cũng “nghèo nàn” không kém.

Họ chỉ mặc bikini, mang giày cao gót. Về khoản “nghèo nàn” trong trang phục, những người sành cà phê đều biết chắc rằng café Lú ở Santa Ana không thể nào so sánh nổi với nhiều quán café ở San Jose. Không chỉ có các cô người Việt phục vụ, mà có cả người Mỹ, người Mễ, người Phi Luật Tân,… Café tại San Jose vì thế thu hút không chỉ khách Việt mà còn cả khách của các sắc tộc khác, và Mỹ nữa. Đến với quán café Việt tại San Jose, nhiều người nói không chỉ có uống café mà còn tha hồ mà nhìn ngắm người đẹp…

Như thế này so với nhiều tiệm ở San Jose thì vẫn còn… kín đáo lắm. Photo courtesy: myFOXla.com

Nhiều quán cà phê của người Việt thành công trong kỹ thuật tiếp khách độc đáo này trong vùng. Khách kéo đến nườm nượp, dĩ nhiên đa phần là khách đàn ông. Quán Café Lu đêm nào cũng chật cứng khách.

Rachel Levy, một nữ tiếp viên của quán, cho biết: “Tôi thấy ăn mặc như thế không có gì là đồi bại, giống như mình đi bãi biển vậy thôi”.

Có khi sau khi dọn món uống xong, các cô ngồi xuống tiếp chuyện với các ông. Một ông tên James, nhận xét: “Bạn có thể đang rầu rỉ, bực mình, bước vào đây, lát sau bước ra vui vẻ thỏa mái!”

Quán cà phê loại này có đặc điểm là nhiều màn ảnh TV cực lớn phục vụ các chương trình thể thao cho khách xem. Không khí rất sôi động.

Thực đơn có gì? Chỉ vài món uống ngọt, cà phê VN và trà. Chấm hết. Không có thực phẩm, không snacks và không rượu. Các cô tiếp viên tự di làm món uống cho khách, giá 7 đô la.

Nam Bùi, một ông khách, nói: “Vui lắm, đàn ông là đàn ông, các cô thật tuyệt”, còn Harmony Vũ, một nữ tiếp viên, cho biết: “Ở đây chả có gì hết ngoài món uống, các cô cực hấp dẫn và thể thao. Chấm hết”.

Trường Giang (nguồn myFOXla.com)

source
Cali Today

Wednesday, 2 March 2011

New York, khủng hoảng đã lùi vào dĩ vãng


HOA KỲ -
Bài đăng : Thứ tư 02 Tháng Ba 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 02 Tháng Ba 2011
New York, khủng hoảng đã lùi vào dĩ vãng
Quảng trường Times Square ở New York (DR)
Quảng trường Times Square ở New York (DR)
Thanh Hà

Ký hợp đồng thuê nhà vỏn vẹn ba gian phòng với cái giá từ 15 000 đến 20 000 đô la một tháng ngay tại khu chung cư sang trọng nhất của New York : phải chăng đó là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy khủng hoảng tài chính 2008 đã hoàn toàn thuộc về quá khứ ?

Để tận hưởng quang cảnh đảo Manhattan có chiếc cầu bắc qua con sông East River ở phía đông, để sớm tối bầu bạn với bức tượng Nữ Thần Tự Do ở phía Nam, để ngày hai buổi ngắm mặt nước con sông Hudson lóng lánh dưới ánh nắng mặt trời và để theo dõi công trình xây dựng của tháp Tự Do, Freedom Tower có những người đã không ngần ngại ký hợp đồng hàng chục ngàn đô la hàng tháng chỉ để thuê nhà ở khu chung cư còn đang trong quá trình xây cất. Tòa cao ốc tương lai này của New York được coi là biểu tượng của thành phố trong thời đại « kỹ thuật số » ở vào đầu thế kỷ XXI do kiến trúc sư Frank Gehry thiết kế.

Đó là khu chung cư cao 265 m, sáng loáng và đổi màu theo thời gian do tòa nhà khoác lên mình chiếc áo thiết kế băng 10 500 tấm kim loại. Khu chung cư này bao gồm 903 căn hộ và đến nay, tuy chưa hòa tất nhưng 115 căn đã có người đăng ký xin thuê.

Theo cơ quan môi giới địa ốc Ratner, khi hoàn thành vào năm tới (2012) khu chung cư này sẽ là tòa cao ốc sang trọng nhất và độc đáo nhất New York, đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi của các vị chủ nhân khó tính nhất. Cha đẻ của tòa nhà đã dành riêng một lối ra vào kín đáo, cách xa với những cặp mắt tò mò của công chúng ; tòa nhà lại cũng có bể bơi riêng, có phòng tập yoga, tập thể dục … rạp xi nê, salon để chơi video cho các vị chủ nhà mê các trò chơi ảo trên Internet.

Ngần ấy dịch vụ đủ để giải thích vì sao bạn phải chi ra 2 600 đô la /tháng để được sống trong một căn phòng … hạng bét tại khu ốc này ! Nhưng đáng nói hơn cả là ngành địa ốc tại New York đã sống lại sau cơn bão tài chính năm 2008, và bản thân thành phố từng được mệnh danh là Big Apple đang hồi sinh sau đợt khủng bố 11/9/2001.

Trong vòng một năm quá giá nhà đất tại New York tăng 42%. Có một số những ông bà tỷ phú sẵn sàng chi ra 40 triệu đô la để mua lại một căn hộ trong cùng chung cư với nam ca sĩ Sting, và trở thành hàng xóm với ông chủ tập đoàn ngân hàng Goldman Sachs.

Trên đại lộ nổi tiếng nhất nước Mỹ, Fifth Avenue các cửa hàng hạng sang bắt đầu đông khách trở lại như thể New York đang sống lại những ngày tháng trước sự sụp đổ của thị trường Wall Street ngày 15/9/2008 !

source

RFI Vietnamese

Tuesday, 18 January 2011

Phụ nữ vẫn có thể thành công trong nghề được coi là của nam giới


VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Tư, 19 tháng 1 2011

Phụ nữ vẫn có thể thành công trong nghề được coi là của nam giới

Thoạt tiên bà Nancy Martiny bắt đầu làm những bộ yên ngựa như một thú vui. Nhưng bây giờ thì bà có một danh sách khách đặt mua mà phải đến 3 năm bà mới có thể giao hàng cho đủ. Bà làm những yên ngựa theo kiểu thủ công từ đầu đến cuối, khắc, chạm cắt dán những mẫu mã rất tỉ mỉ, công phu vào da để bọc yên ngựa. Bà làm công việc trong một lãnh vực mà từ bao nhiêu năm nay do các cao bồi thống trị. Nhưng theo thông tín viên Sadie Babits giải thích, chuyện đó chẳng hề làm cho bà Nancy Martini bận tâm

Bà Martiny đang khắc trên tấm da làm yên ngựa
Hình: VOA - S. Babits

Bà Martiny có một danh sách khách đặt mua mà phải đến 3 năm bà mới có thể giao hàng cho đủ


Làm việc với nam giới chẳng phải là chuyện xa lạ gì với bà Nancy Martiny. Bà sinh trưởng nơi một trại chăn nuôi, làm việc với trâu bò, mục súc, cưỡi ngựa và quăng dây kéo những con bò lạc trở lại đàn. Bà nói:

“Từ ngày còn nhỏ tôi thường làm những chuyện mà nam giới vẫn làm, và khi lớn hơn, tôi cưỡi ngựa, cưỡi bò chứng và biểu diễn những màn rodeo như vậy. Lúc nào tôi cũng làm việc với nam giới.”

Vì thế chẳng bao giờ bà nghĩ là không thể làm được mấy cái yên ngựa đó, những thứ là nghề của những người đàn ông, các cao bồi, vẫn thường làm:

“Có những người cho rằng tôi phải to khỏe mới làm được những bộ yên ngựa như thế này, nhưng không phải vậy, quí vị cần phải có con dao thật bén.”

Và người ta còn cần đến con mắt nghệ sỹ để cắt tỉa và dán những mẫu mã lên trên nền da. Bà giải thích:

“Đây là loại công việc thiên về thủ công tinh tế hơn là sức lực. Nếu như làm mạnh tay quá thì quí vị sẽ làm hỏng cả mảnh da và có thể là không đúng cách.”

Bà Martiny đang dán chặt một mẫu hình của cọng hoa lên trên nền da rồi tiếp tục với những cánh hoa, để cho những mẫu hình này xem chừng như nổi bật lên trên nền da. Đây là một tài khéo mà bà đã học được từ ngày mới lớn, khi xem thân phụ bà chạm hình trên mặt lớp da. Bà kể lại:

“Vì thế khi 15 tuổi, tôi thuyết phục cha tôi để tôi bắt đầu làm công việc chạm hình lên mặt da. Thế rồi tôi dùng đồ nghề của ông làm dây lưng da cho chính tôi dùng, bạn bè ở trường tôi thấy vậy, họ cũng muốn có một sợi dây lưng kiểu miền tây, và mọi chuyện bắt đầu từ đấy.”

Bà Martiny làm dây lưng da, ví da, những vật dụng nho nhỏ, như vậy trong mấy năm. Rồi sau đó bà gặp một người làm yên ngựa cừ khôi nhất trong vùng, ông Dale Harwood. Lúc đó chồng bà có mấy bộ yên ngựa do ông Harwood làm và ông đã thuyết phục ông Harwood làm cho vợ ông một cái khung, để gắn lớp da lót lên. Bà nói:

“Tôi ngồi nhìn cái khung yên ngựa và đoán là ông Dale Harwood chẳng muốn tôi sờ tay vào cái khung này vì sợ tôi làm hỏng nó, thế rồi chúng tôi phải thuyết phục ông, mãi ông cũng xiêu lòng, chỉ dẫn, giúp cho tôi làm bộ yên ngựa đầu tiên.”

Bà Martiny đã từng trang trí mẫu mã cho các bộ yên ngựa nhưng chưa bao giờ làm nguyên một bộ từ đầu đến cuối. Vì vậy bà vẽ kiểu trên mảnh da bọc yên ngựa tại nhà, rồi đến cửa hàng của ông Harwood nhờ ông chỉ dẫn:

“Ông hướng dẫn cho tôi từng bước một và tôi ghi chép lại những gì ông chỉ cho tôi khi tôi làm bộ yên ngựa đầu tiên này.”

Cuốn vở mà bà ghi chép trở thành một thứ linh vật của bà:

“Tôi thu hết can đảm, bắt đầu làm một bộ yên ngựa cho trẻ con, rồi cứ vừa làm vừa ngó vào quyển vở ghi chép. Khi nào tôi làm hư, tôi gọi cho ông, nếu ông có thời giờ, ông sẵn sàng chỉ dẫn cho tôi. rồi tôi làm được những bộ yên ngựa và mọi người thấy vậy đến đặt tôi làm.”

Và đấy là đầu đuôi câu chuyện mà bà Nancy Martiny bắt tay vào nghề làm yên ngựa. Đến nay đã 20 năm, khách hàng của bà thường tìm đến bà do lời quảng cáo truyền miệng mà thôi.

Bà không mở cửa hàng. Bà sống tại Pahsimeroi Valley, gần thị trấn May, bang Idaho, trong một trại chăn nuôi của gia đình chồng bà từ 120 năm nay.

Bà Martiny dẫn khách đến căn nhà thoáng gió cất đồ nghề của trại, nơi bà giữ những bộ yên ngựa cho gia đình. Đuổi một con chuột ra khỏi bộ yên trong lúc bà giải thích rằng hầu hết khách hàng của bà là những chủ trại chăn nuôi, các anh, các cô cao bồi chăn bò, nhận nơi này làm quê hương:

“Tôi đoán đấy là một phần của sự thành công của tôi, và đó cũng là lý do tại sao các vị nam giới không ngần ngại đặt tôi làm yên ngựa cho họ, vì nhiều người đến đặt hàng đều biết tôi hoặc có nghe nói đến tôi, và họ biết là tôi cũng chăn mục súc, biết nắm sừng trâu bò ra sao, thắng yên cương ngựa như thế nào.”

VOA - S. Babits
Có những bộ yên cương đơn giản, nhưng cũng có những bộ được trang trí bằng những mẫu mã hoa lá cành tỉ mỉ

Nhiều bộ yên ngựa do bà làm trông đơn giản với mặt nháp của lớp da bọc lộ ra với một vài đường trang trí. Đó là những bộ yên ngựa để dãi dầu. Cũng lại có những bộ được trang trí bằng những mẫu mã hoa lá cành tỉ mỉ. Bà cho biết tiếp :

“Tôi muốn những bộ yên ngựa trông đơn giản mà vẫn đẹp như những bộ được trang trí tỉ mỉ. Ví vậy khi có ai khen, tôi hy vọng là họ khen cả hai loại này, đó là mục tiêu mà tôi nhắm tới.”

Bà Martiny liên tục làm những thứ khác trong lúc vẫn làm yên ngựa. Bà làm những mảnh bao chân cho kỵ mã, dây cương và mới đây, bà làm ví xách.

Có thể là bà Nancy Martiny làm một nghề mà nhiều người coi là của những chàng cao bồi chăn bò. Nhưng bà cho biết nói vậy không có nghĩa là thỉnh thoảng bà không thể làm ra những sản phẩm có nhiều nữ tính hơn, như ví xách tay chẳng hạn.
source
VOA Vietnamese

Friday, 3 December 2010

Tản mạn cà phê sân vườn


Tản mạn cà phê sân vườn
Cập nhật lúc 11:33:51 PM - 26/11/2010
Bài và ảnh: Trần Công Nhung
1.jpg
Cà phê Cung Đình.


Ngày nay xuất hiện nhiều cà phê sân vườn. Cà phê sân vườn hoàn toàn ngược với cà phê máy lạnh. Đúng nghĩa sân vườn là phải có sân rộng, có vườn cây ăn trái, cây kiểng để có không gian xanh mát. Cà phê sân vườn, nếu không mưa, khách thích ngồi ngoài dưới bóng cây, cạnh chậu bonsai hay hòn non bộ, vừa thưởng thức cà phê vừa hòa mình với thiên nhiên, quả là một cơ hội thư giãn tuyệt vời. Cà phê thường kèm theo thuốc lá, ngồi ngoài sân sẽ không làm phiền những người không hút thuốc chung quanh.
Cà phê sân vườn là loại quán phổ biến những năm đầu thế kỷ 21. Có lẽ “sân vườn” phát xuất từ Huế: Vỹ Dạ Xưa, Nam Giao hoài cổ, Tịnh Gia Viên... là những nơi nổi tiếng về cà phê sân vườn. Do phong trào này, thiên hạ đua nhau đi tìm nhà “rường” để tạo ra một vườn cà phê mang nét cung đình. Đặc tính chung của cà phê vườn (từ Bắc vô Nam), là có cây cảnh làm phông cảnh, trang trí theo nét cổ, mang thiên nhiên đến với khách hàng. Nhiều nơi quán cà phê giữa phố ồn ào, song nhờ tài “hóa trang” và thiết kế, nên đã tạo được cho quán một không gian lãng mạn ấm cúng lôi cuốn khách. Như cà phê Phố Cổ 11 Hàng Gai Hà Nội, Vỹ Dạ Xưa (Huế), Viễn Xưa (Sài Gòn)...
Xu hướng con người cũng lạ, bôn ba vùng vẫy, cuối cùng lại trở về chốn xưa. “Đổi mới” trở về cũ. Nhiều văn nghệ sĩ thời nay cũng thêm nghề mở quán. Cà phê Hoa Vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư (cư xá Bắc Hải Sài Gòn), Phố Hoài của Huy Tưởng (Tân Định), là những quán nhỏ giản dị, nơi gặp gỡ của giới nghệ sĩ thân quen, không huyên náo xô bồ... Văn nghệ sĩ mở quán có lẽ do thời thế đưa đẩy (1), chứ vậy là hơi “trái đường”. Điều chắc chắn là người ngoại quốc không thể nào hiểu chuyện uống cà phê của người Việt. Uống cà phê “full time” chỉ có nơi thiên đàng Việt Nam. Đến mùa World Cup, lại có thêm “cà phê bóng tròn”, một số quán phải làm “overtime”, vì các trận túc cầu bắt đầu từ 1 giờ sáng (VN). Nhắc đến bóng tròn, chúng ta chưa quên vụ án cá độ của một quan chức, giải trí mà phải đi tù. Chuyện ăn thua cá cược theo các trận túc cầu quốc tế nước nào cũng có, thời nào cũng có, nhưng chắc không nơi nào qua mặt nổi Việt Nam. Tôi nhớ hồi thập niên 50, mỗi chiều thứ Bảy, các đội tuyển trong nước gặp nhau, không có truyền hình như bây giờ, khán giả theo dõi các trận đấu từ chiếc Radio Phillip qua giọng tường thuật của Huyền Vũ, thế mà hào hứng sôi nổi như đang ở trong vận động trường. Ngày nay, các nhà tường thuật chỉ được cái to họng, nếu lạc vào thời xa xưa, thế nào người ta cũng bảo thằng khùng lảm nhảm.

2.jpg
Cà phê Vườn ở Huế.

Báo chí Sài Gòn mới đây ca ngợi Cà phê Vườn Đá trong khu giải trí Đầm Sen. Cà phê Vườn Đá, dành cho khách vừa uống cà phê vừa ngắm non bộ, đá cảnh, một thú vui tao nhã đã bị lãng quên. Nhưng Cà phê Vườn Đá chỉ được cái bề thế qui mô, chứ giữa một tung tâm giải trí vui chơi náo nhiệt, thì làm sao trầm tư với hương vị cà phê!
Cà phê tuy là món giải khát phụ, lại không thể thiếu mỗi ngày. Đến như một anh xe xích lô miền Nam, sáng ra thế nào cũng có tờ báo, ly cà phê, xong “thủ tục” đầu ngày, mới chịu lên xe ra đường. Ấy vậy mà bất chợt hỏi về gốc gác cà phê, thì không mấy ai biết. Đôi ba người trả lời mơ hồ: “Thì do người Pháp mang qua trồng chứ gì”.
Nguồn gốc cà phê xuất phát từ một sự tích có vẻ như một huyền thoại bên xứ Assybania (2). Chuyện kể: Một anh chàng chăn dê tên là Kaldi, người Abyssinia, hàng ngày lùa dê lên núi chăn. Một hôm chợt thấy đàn dê xúm lại vặt ăn những trái màu đỏ ở một bụi cây. Anh ta bèn bứt một vài trái ăn thử và thấy người phấn chấn lên, như tăng cường sinh lực. Cho rằng mình đã gặp một phép lạ, anh vội lấy ít trái chạy đến một tu viện gần đó báo chuyện lạ anh vừa khám phá. Nhà tu lại cho đây là một thứ trái cấm của quỉ dữ, liền vứt những trái chín đỏ kia vào lò lửa hủy đi, nhưng không ngờ khi hạt bị cháy, tỏa ra một mùi thơm, vị tu sĩ mới tin đây là món quà của Thượng Đế ban cho, nên vội vàng lấy ra, gọi các tăng lữ khác đến xem. Sau đó các tu sĩ cho người đi lấy loại hạt này về rang giã pha nước làm thức uống: cà phê được biết từ đó. Cây cà phê mọc hoang trong vùng Abyssinia và Arabia. Thổ dân thường dùng như một loại thuốc kích thích. Trái cà phê chín giã nhuyễn, trộn với mỡ súc vật, làm thành từng viên tròn làm thực phẩm đi đường. Dần dà cà phê được làm thức uống, nhưng cách pha chế khác ngày nay. Thời đó người ta ngâm nước những trái cà phê rồi uống, đến thời Trung cổ, người Ả Rập mới biết tán nhỏ cho vào nước sôi.
Thức uống đó chẳng mấy chốc trở nên nổi tiếng, và người Ả Rập rất tự hào về phát minh này, họ giữ bí mật để độc quyền. Khách hành hương thưởng thức nước cà phê, đã lén lút đem hạt giống về trồng, nên chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Đông đều có cà phê, và truyền đi mỗi lúc một xa hơn.
Đến thế kỷ thứ 13, cà phê trở thành thức uống truyền thống của người Ả Rập. Quán cà phê mở ra khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị. Những quán đó trở thành những nơi sinh hoạt, với đủ loại giải trí từ âm nhạc đến cờ bạc và các triết gia, chính trị gia, thương gia thường lui tới, tụ tập bàn thảo sinh hoạt xã hội và công việc làm ăn. Mãi đến năm 1637, quán cà phê đầu tiên ở Âu Châu được khai trương tại Anh Quốc, do một nhà buôn tên Jacob (người Do Thái, gốc Thổ Nhĩ Kỳ) mở tại Oxford. Một quán cà phê khác ở London và rồi nhiều thành phố tiếp nối theo. Sở dĩ cà phê phát triển chậm, là do sự cản trở của giáo hội La Mã (nghi là ma thuật).
Cuối thế kỷ 17, hầu hết cà phê trên thế giới đều nhập cảng từ các nước Ả Rập, và chỉ được mang cà phê đã rang chín ra khỏi xứ, để không ai có thể gây giống trồng nơi khác. Người ngoại quốc cũng bị cấm bén mảng đến những đồn điền cà phê. Thế nhưng rồi người Hòa Lan cũng đã lấy được giống loại cây này đem về trồng thử trên đảo Java (thuộc địa của họ). Từ đó cây cà phê được truyền sang Âu Châu, mặc dù vẫn chỉ có thể trồng trong nhà kiếng. Cà phê do người Hòa Lan truyền đến Bắc Mỹ vào năm 1660 ở vùng New Amsterdam. Bốn năm sau, người Anh chiếm vùng này và đặt tên là New York. Bấy giờ cà phê thành một thức uống quen thuộc thay bia vào mỗi bữa ăn sáng của người Mỹ.
Ngày nay thế giới nơi nào cũng tôn sùng cà phê, việc sản xuất và kỹ thuật pha chế, chắc chắn họ bài bản hơn ta nhiều. Theo đài VOA nghe được vào ngày 22-8-2010, trong mục kinh doanh nói về cà phê: Có 2 loại cà phê: chè và vối. Cà phê chè nổi tiếng ở Brazil và các nước châu Âu. Loại cà phê này phát triển ở xứ lạnh, trong khi Việt Nam chỉ trồng được cà phê vối. Số cầu cà phê chè cao hơn số cầu cà phê vối, nên giá cao gấp đôi. Cà phê uống ngay (instant coffee) làm bằng cà phê vối, còn cà phê chè uống phin. Cà phê chè được tiếng thơm ngon và không đắng gắt như café vối. Có 2 thị trường quốc tế chính: New York và London, cả hai mua bán theo “kỳ hạn”, nghĩa là định giá trước giao hàng sau. Thị trường đầu tiên là thị trường liên châu lục đặt tại New York, các hợp đồng về cà phê chè tính trên bao 1/2kg. Thị trường London hợp đồng cà phê vối tính theo tấn. Tháng 7 – 2010, một tấn cà phê chè giá New York 3.700 Mỹ kim, trong khi tại London, cà phê vối chỉ 1.730 Mỹ kim một tấn. Như vậy tại sao Việt Nam không trồng cà phê chè để có giá gấp đôi? Vấn đề là do thổ nhưỡng khí hậu, Việt Nam nóng ẩm không trồng được cà phê chè. Cà phê chè chịu xứ lạnh, hai nữa thời gian thu hoạch cà phê vối nhanh bằng 1/2 thời gian cà phê chè. Theo giới sành điệu, cà phê ngon không là cà phê nguyên chất, cà phê ngon là do tẩm hương liệu và pha chế. Việt Nam còn có những tính toán phụ để lôi cuốn khách, như tiếp viên chạy bàn phải xinh đẹp trẻ trung, tên quán sao cho thơ mộng, gợi cảm: Café Mây Hồng, café Thiên Thai, café Nguyệt Cầm... và không gian, địa điểm cũng không kém phần quan trọng, chúng ta đã điểm qua trong phần cà phê vườn.

3.jpg

Cà phê Vườn Phan Rang.


Lướt sơ qua để biết vai trò và giá trị cà phê trên thế giới, có lẽ xin trở lại với cà phê đời thường làng quê ta. Ngay trong cái xã hội cỏn con của xứ VN, cà phê cũng thiên hình vạn trạng, trăm quán trăm “gu” khác nhau, có chỗ tẩm bơ, có nơi nêm nướcmắm nhỉ... Có lẽ nhiều người đã nghe chuyện anh chàng “Trung Nguyên” đi học rang cà phê. Anh xuất thân từ một sinh viên đi làm thuê cho nhà sản xuất cà phê. Về sau anh quyết tìm cách xâm nhập khai thác nghề này, anh đi học cách pha tẩm và rang cà phê. Anh nếm hết các quán café nổi tiếng từ Nam ra Bắc, nơi nào ngon, anh xin vào làm để học. Anh đã tìm ra một nhà chuyên rang tẩm café tại Qui Nhơn, có hương vị độc đáo, anh nài nỉ xin học nghề. Chủ nhà ra điều kiện sẽ cho anh công thức gồm 10 chữ, mỗi chữ 1 triệu đồng (tin Tuổi Trẻ). Anh chấp nhận và chẳng bao lâu anh nổi tiếng từ trong nước ra quốc tế. Có lần tôi đi qua nhà máy sản xuất café rất lớn của anh tại Buôn Ma Thuột, mới thực sự giật mình, đây là “đại gia đại kỹ nghệ” chứ chẳng phải kinh doanh tầm thường. Nhưng mới đây không lâu, cũng đã có bài phân chất café Trung Nguyên cho thấy, không phải đáng tin cậy hoàn toàn.
Thực lòng mà nói, tôi không nghĩ nhiều người ghiền cà phê đến như vậy. Nhịn ăn một bữa không sao, thiếu cà phê một bữa lại vật vờ không chịu nổi. Bao nhiêu quán mở ra cũng đều có khách. Mới đây lại nghe ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) có “Cà phê Gió Nước”, nổi tiếng khắp nơi, lại được giải thưởng này nọ. Lời đồn mơ mơ hồ hồ, tôi phải bỏ một buổi đi tìm.
(Kỳ tới: Café Gió Nước)

Trần Công nhung
07-2010

(1). Tôi cũng đã từng mở “cà phê sân vườn”: Bosanobo trang 102 - Buồn vui nghề chơi cây kiểng in 2003.
(2) Một nước ở châu Phi.
source
VienDongDaily

Nông dân thế hệ hai ở Trung Quốc


Nông dân thế hệ hai ở Trung Quốc

(Dân Việt) - Thế hệ hai đã đông tới gần 100 triệu người, nhưng phần lớn họ vẫn bị lạc lõng dù đang sống ở thành phố hay quay về nông thôn.

Bắt đầu từ tháng 3 - 2010, Trung Quốc đã tiến hành điều tra về thế hệ mới của nông dân vào thành phố làm thuê sinh sau những năm 80 của thế kỷ trước, gồm các độ tuổi từ 16 trở lên tại hơn 10 tỉnh, thành phố như Liêu Ninh, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sơn Đông, Tứ Xuyên…

Kết quả điều tra cho thấy, thế hệ hai đã đông tới gần 100 triệu người, nhưng phần lớn họ vẫn bị lạc lõng dù đang sống ở thành phố hay quay về nông thôn.

Một trong số những nguyên nhân là do lớp nông dân thế hệ hai đều chưa thể thực sự hoà nhập với cuộc sống ở mỗi nơi. Trong số thế hệ hai có tới 89% dù là con nông dân nhưng về căn bản không biết công việc nhà nông.

Còn số những người lúc đi lúc ở giữa thành phố và nông thôn thì đang đứng trước thách thức sinh tồn chưa từng có, bởi thế hệ này ngoài việc khả năng chịu đựng thấp hơn thế hệ trước lại không thông thạo nghề chuyên môn, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Mặc dù sinh ra tại thành phố, nhưng tại các đô thị phồn hoa họ vẫn chỉ là những "khách qua đường".

Ngoài ra, thế hệ thứ hai của nông dân vào thành phố làm thuê phần lớn đang ở độ tuổi kết hôn nên đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mới như nhà ở hoặc giáo dục con em. Số liệu mới đây của Tổng cục Thống kê Trung Quốc cũng cho thấy, 15% trong tổng số 130 triệu lao động nghèo nhập cư lên thành phố đã phải trở về quê từ cuối năm 2008 vì không tìm được việc làm.

Trong khi mỗi năm, Trung Quốc có khoảng 5 đến 7 triệu công nhân mới từ các khu vực nông thôn tới các thành phố lớn tìm việc. Phải chăng đây là những vấn đề mới xuất hiện đang làm cho các nhà quản lý đô thị Trung Quốc đau đầu.